Hiển thị các bài đăng có nhãn Bên trong chúng ta. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bên trong chúng ta. Hiển thị tất cả bài đăng

Tâm lý học trong phim hoạt hình "Inside out"

Năm năm trước, tác giả và đạo diễn Pete Docter của Pixar đã liên hệ với chúng tôi để nói về ý tưởng của một bộ phim trong đó mô tả cách thức các cảm xúc hoạt động trong đầu óc chúng ta và đồng thời định hình cách chúng ta phản ứng với những người xung quanh. Peter Doctor muốn diễn tả tất cả những điều đó trong tâm trí của một cô bé 11 tuổi khi cô đang phải trải qua những ngày khó khăn trong cuộc sống của mình. Với tư cách những nhà khoa học nghiên cứu về cảm xúc trong nhiều thập kỷ, chúng tôi cảm thấy rất tự hào khi được hỏi ý kiến. Cuối cùng, chúng tôi trở thành các cố vần khoa học cho bộ phim “Inside Out” đang được trình chiếu. 

Nguồn: Internet
  Cuộc đối thoại của chúng tôi với Peter Docter và nhóm làm phim chủ yếu xoay quanh việc khoa học liên hệ như thế nào đến tâm điểm của bộ phim: Cách thức cảm xúc chi phối dòng dòng ý thức ra sao? Cảm xúc “tô màu” cho các ký ức quá khứ của chúng ta như thế nào? Cuộc sống cảm xúc của một bé gái 11 tuổi sẽ có những điều gì? (Các nghiên cứu cho thấy kinh nghiệm về những cảm xúc tích cực bắt đầu tuột dốc về cả tần suất lẫn cường độ ở độ tuổi này.) “Inside Out” là câu chuyện về 5 loại cảm xúc – được nhân hóa thành các nhân vật Giận Dữ, Chán Ghét, Sợ Hãi, Buồn Bã và Vui Vẻ – vất vả kiểm soát tâm trí của cô bé Riley 11 tuổi trong giai đoạn chuyển nhà đầy khó khăn từ Minnesota tới San Francisco. (Một trong hai chúng tôi đã đề nghị đưa tất cả những cảm xúc hiện đang được nghiên cứu vào trong bộ phim nhưng Docter đã từ chối vì đơn giản rằng câu chuyệ nchỉ có thể chứa tối đa năm hay sáu nhân vật mà thôi.).

 Tính cách chủ yếu của Riley là Vui Vẻ, điều này cũng phù hợp với những hiểu biết khoa học của chúng tôi. Nghiên cứu cho thấy căn tính của chúng ta được định hình bằng những cảm xúc cụ thể, chúng nhào nặn nên cách ta tri giác thế giới, thể hiện bản thân và khơi dậy những cách thế phản ứng nơi người khác. Tuy nhiên, ngôi sao của bộ phim lại là Buồn Bã. “Inside Out” là bộ phim về mất mát và những điều chúng ta cảm nhận khi buồn bã. Riley mất bạn bè và ngôi nhà quen thuộc của mình khi đi khỏi Minnesota. Hơn thế nữa, cô bắt đầu bước vào tuổi “tiền vị thành niên” với đặc điểm là việc mất dần tuổi thơ. Chúng tôi có thể có một chút băn khoăn với cách buồn bã được mô tả trong “Inside Out”. Buồn Bã là một nhân vật chậm chạp, chán nản mà Vui Vẻ phải kéo đi khắp nơi trong tâm trí Riley. 

Trong thực tế, nghiên cứu cho thấy buồn bã có mối liên hệ với việc làm gia tăng những kích thích về mặt thể lý, kích hoạt cơ thể hoạt động đáp ứng trước những mất mát. Trong bộ phim, Buồn Bã trông rất lôi thôi, xấu xí. Trong khi thực tế cho thấy người buồn bã lại có sức hút những người khác đến với mình để an ủi và giúp đỡ. Thế nhưng, đặt những băn khoăn đó qua một bên, hình ảnh của Buồn Bã trong bộ phim đã thể hiện được hai cách nhìn trọng tâm của khoa học về cảm xúc. Đầu tiên, cảm xúc tổ chức – chứ không phải cản trở – suy nghĩ lý trí. 

Theo truyền thống tư duy Tây Phương, quan điểm phổ thông cho rằng cảm xúc là kẻ thù của lý trí và làm gián đoạn những mối quan hệ hợp tác xã hội. Dù vậy, thực tế thì cảm xúc định hướng cách chúng ta tri giác thế giới, các ký ức quá khứ của chúng ta và thậm chí đánh giá đạo đức về những điều đúng-sai. Đa phần, chúng sẽ dẫn dắt chúng ta theo những cách thế giúp ta đáp trả hiệu quả với tình huống hiện tại. Ví dụ, nghiên cứu cho thấy khi chúng ta tức giận, chúng ta thường ngay lập tức nhận ra những điều bất công, điều này giúp kích hoạt các hành động giúp khôi phục công bằng. Chúng ta có thể nhận thấy điều này trong “Inside Out”. 

Buồn Bã dần dần giành quyền kiểm soát tiến trình suy nghĩ của Riley về những thay đổi cô phải trải qua. Điều này được thể hiện rõ nhất khi Buồn Bã tô đậm thêm màu xanh vào ký ức của Riley về quãng đời ở Minnesota. Nghiên cứu khoa học cho thấy những cảm xúc hiện tại định hình những gì chúng ta nhớ về quá khứ. Đây chính là chức năng tối quan trọng của Buồn Bã trong phim: nó giúp Riley nhận ra những thay đổi, những mất mát mình có, tạo nền móng để cô phát triển những phương diện mới trong căn tính của mình. Thứ hai, cảm xúc tổ chức – chứ không phải cản trở – cuộc sống xã hội của chúng ta. 

Nghiên cứu đã phát hiện rằng cảm xúc tạo nên cấu trúc (chứ không chỉ là tô màu) những tương tác xã hội khác nhau như việc gắn bó giữa cha mẹ và con cái, những mâu thuẫn anh em, tình cảm tuổi mới lớn và cả những trao đổi giữa hai người thù ghét nhau. Các nghiên cứu khác thì cho thấy chính giận dữ (nhiều hơn cả ý thức về chính trị) khiến tập thể xã hội đứng lên biểu tình và chống đối bất công. Một trong những nghiên cứu mà chúng tôi đã thực hiện cho thấy biểu hiện xấu hổ kích hoạt lòng tha thứ nơi người khác khi chúng ta lỡ có hành động vi phạm các quy tắc xã hội. Chính điều này cũng được cường điệu hóa tron bộ phim. 

Bạn có thể cho rằng buồn bã là một trạng thái có đặc điểm tĩnh lặng, thụ động, thiếu vắng những hành động có chủ đích. Tuy nhiên trong “Inside Out”, cũng như trong thực tế cuộc sống, buồn bã thúc đẩy con người đến với nhau nhằm phản ứng lại trước những mất mát. Chúng ta thấy điều này khi Riley nổi giận, rời khỏi bàn ăn, bỏ lên lầu và nằm một mình trong căn phòng tối, để lại người bố băn khoăn không biết phải làm gì. Về cuối bộ phim, chính Buồn Bã đã đưa Riley trở lại với cha mẹ, nó có liên quan tới việc tiếp xúc và những thanh âm cảm xúc mà chúng tôi gọi là “vocal burst”, chúng thể hiện niềm vui sâu sắc khi đoàn tụ, đây là điều đã được một trong hai chúng tôi nghiên cứu trong phòng thực nghiệm. “Inside Out” đưa đến một cái nhìn mới với nỗi buồn. 

Quan điểm mới của bộ phim là: Hãy ôm lấy nỗi buồn, hãy để nó được bộc lộ và hãy kiên nhẫn làm việc với những khó khăn cảm xúc của trẻ vị thành niên. Buồn bã sẽ soi tỏ những mất mát (trong tuổi thơ) và đưa gia đình đến với những điều mới mẻ: những đặc điểm mới được hình thành, cho cả con cái và cha mẹ. Tác giả: Dacher Keltner là giáo sư tâm lý học tại ĐH California Berkeley Paul Ekman là giáo sư tâm lý danh dự thuộc ĐH California, San Francisco 

Nguồn: New York Times
Nguồn dịch: Hành lang tâm lý

Những lý thuyết không lãng mạng về tình yêu

Tại sao chúng ta bị thu hút trước một người nào đó và không bị thu hút trước những người khác? Điều gì làm chúng ta bắt đầu yêu và duy trì tình yêu? Các nhà thơ tìm tòi sự huyền bí của tình yêu với những bài thơ trữ tình, các nhạc sĩ tìm cách nắm bắt bản chất tinh tế của tình yêu trong bài hát, và nhiều người khác cảm thấy tình yêu của họ được truyền cảm hứng thần thánh. Ngược lại, các nhà tâm lý học nhân cách và xã hội phân chia tình yêu thành những hình dạng, màu sắc và phương trình đơn giản như được miêu tả ở dưới. Những lý thuyết đó dường như làm giảm tình yêu xuống thành một thứ gì đó trần tục và không thú vị, nhưng bản thân chúng cũng có tính thanh lịch.

1. Tam giác tình yêu

103139-100545

Theo Lý thuyết tam giác tình yêu (2004) của Robert Sternberg, tình yêu bao gồm 3 yếu tố, tính thân mật (gần gũi cảm xúc), đam mê (thu hút tình dục và lãng mạn) và sự cam kết. Hình thức lý tưởng của tình yêu cho một cặp đôi (Tình yêu trọn vẹn) bao gồm cả 3 yếu tố, nhưng nó không dễ duy trì vì ngọn lửa đam mê có xu hướng phai tàn theo thời gian. Sternberg cũng mô tả 6 kiểu kết hợp khác.
  • Tình yêu lãng mạn bao gồm sự thân mật và đam mê mà không có sự cam kết và thường phổ biến trong những năm tháng tuổi thanh thiếu niên.
  • Tình yêu bầu bạn bao gồm sự thân mật và cam kết mà không có đam mê và thường phổ biến ở những người bạn thân và đôi lúc ở những cuộc hôn nhân dài hạn.
  • Tình yêu mê đắm chỉ bao gồm sự đam mê và thường xuất hiện ở giai đoạn bắt đầu của một mối quan hệ.
  • Tình yêu trống rỗng bao gồm sự cam kết mà không có sự thân mật hoặc đam mê, như trong một cuộc hôn nhân được sắp đặt – nhưng nó có thể phát triển thành những hình thức khác của tình yêu theo thời gian.
  • Cuối cùng, tình yêu ngu ngốc, ví dụ như đính hôn sau khi hẹn hò được 3 tuần – nó bao gồm sự đam mê và cam kết nhưng không có sự thân mật sâu sắc hơn.

2. Bánh xe màu sắc

103139-100546
 John Lee (1973) xác định 6 kiểu tình yêu và chỉ về chúng như “những sắc màu của tình yêu”, dù chúng không tương ứng với những màu sắc thực.
  • Kiểu thứ nhất, Eros, được đặc trưng bởi sự lý tưởng hóa về đối tác của một người và những cảm xúc lãng mạn mãnh liệt.
  • Ludus được đặc trưng bởi một nhu cầu về sự phấn khích và một quan điểm xem tình yêu như một trò chơi – nghiên cứu cho rằng đàn ông có nhiều khả năn hơn phụ nữ, có kiểu tình yêu này.
  • Storge được đặc trưng bởi tình bạn và sự ổn định, giống với tình yêu bầu bạn của Sternberg.
  • Pragma được đặc trưng bởi những xem xét thực tế, ví dụ như một “danh sách” những phẩm chất. Storge và pragma thường phổ biến hơn ở phụ nữ.
  • Mania bao gồm sự ám ảnh, ghen tuông và những cảm xúc lên lên, xuống xuống cực đoan.
  • Agape chỉ về lòng yêu thương vô điều kiện và quên mình.

3. Hiệu ứng tiếp xúc đơn thuần.

Đây là một trong những khái niệm không quên được nhất từ lớp học tâm lý học đầu tiên của tôi và có lẽ là lý thuyết tình yêu không lãng mạn nhất trong tất cả các lý thuyết. Hiệu ứng tiếp xúc đơn thuần được khám phá bởi Robert Zajonc (1968) nói về xu hướng thích những thứ quen thuộc với chúng ta – đó là, những người và vật mà chúng ta tiếp xúc thường xuyên nhất. Hiệu ứng tiếp xúc đơn thuần giúp giải thích về sự gần gũi (propinquity), quan điểm cho rằng một trong những yếu tố quyết định chính của sự thu hút liên nhân cách là sự ở gần về mặt vật lý. Trong một loạt nghiên cứu nổi tiếng được tiến hành bởi Leon Festinger và những người khác (1950), sự phát triển của những tình bạn trong một dãy phòng có liên quan trực tiếp đến khoảng cách giữa các phòng – con người có nhiều khả năng trở thành bạn bè với những người hàng xóm sống gần họ hơn, và những người họ tình cờ gặp thường xuyên hơn trên đường đi xuống cầu thang hoặc đi đến hòm thư. Dù có một số mức độ của sự ngẫu nhiên và may mắn trong những mối gắn bó chúng ta hình thành, thì điều này không có nghĩa là những mối quan hệ dựa trên sự ở gần là kém chân thành và ý nghĩa. Nhưng nó cho rằng chúng ta có thể có một cuộc sống hoàn toàn khác nếu chúng ta sống ở một căn phòng khác trong kí túc xá đại học.

4. Sự thu hút mô phỏng.

Những thứ trái ngược nhau thì thu hút nhau hay là những thứ giống nhau thu hút nhau? Nghiên cứu cho rằng cái thứ hai thường đúng hơn. Con người bị thu hút nhiều hơn trước những người giống bản thân họ theo nhiều cách, từ tính cách cho đến niềm tin tôn giáo đến ngoại hình, và những cặp vợ chồng giống nhau nhiều có xu hướng hạnh phúc hơn. Trong một nghiên cứu, những người tham gia thông báo họ bị thu hút nhiều nhất trước những phiên bản mô phỏng về những khuôn mặt của riêng họ (dù diễn giải của phát hiện này gây tranh cãi). Dù có những lợi thế của sự phong phú về di truyền thì nó cũng có những bất lợi xã hội. Một cặp đôi trông càng giống nhau, thì người cha càng dễ dàng nhận ra liệu một đứa bé có phải con của anh ta không, điều đó có thể ủng hộ lập luận từ quan điểm tiến hóa về sự thu hút trước những người giống bạn về ngoại hình.

5. Phương trình cam kết.

Bạn cam kết với đối tác của bạn như thế nào? Nghiên cứu cho rằng nó phụ thuộc vào 3 yếu tố chính:
1) bạn đầu tư vào mối quan hệ như thế nào (ví dụ, những mất mát của bạn khi rời mối quan hệ là gì),
2) bạn nhận được từ mối quan hệ nhiều như thế nào, và
3) liệu có những người thay thế quyến rũ.
Caryl Rusbult phát triển Mô hình đầu tư bằng cách nghiên cứu những quỹ đạo mối quan hệ của các sinh viên đại học – trong những phân tích thống kê, 3 yếu tố đó nổi lên như những yếu tố dự báo về sự cam kết mạnh mẽ nhất. Đây là phương trình:
Sự cam kết = Đầu tư + (phần thưởng – phí tổn) – những lựa chọn thay thế hấp dẫn
Mô hình đầu tư giúp giải thích tại sao con người có thể ở trong mối quan hệ không hạnh phúc hoặc bạo hành – có thể bao gồm con cái, sự phụ thuộc tài chính hoặc thiếu sự giúp đỡ bên ngoài của xã hội. Nó cũng có thể giải thích tại sao người có quá nhiều lựa chọn thay thế hấp dẫn có sẵn đôi lúc gặp khó khăn với việc cam kết.
Dù không có bất kỳ lý thuyết riêng biệt nào giúp nắm bắt hoàn toàn cái mà đối với hầu hết chúng ta là một kinh nghiệm rất phức tạp và mang tính cá nhân, thì nghiên cứu khoa học về tình yêu không nhất thiết làm giảm sự mầu nhiệm của tình yêu. Những lý thuyết đó có thể giúp chúng ta yêu một cách thông minh hơn, với sự thừa nhận về những tác động xã hội, sinh học và văn hóa hình thành nên những lựa chọn của chúng ta.

NGUỒN

Tính duy nhất trong tình yêu là gì?

Bài viết này tôi sẽ trình bày với các bạn về tình yêu, tất nhiên vấn đề cố hữu này tôi sẽ không đưa ra khái niệm hay định nghĩa để trả lời câu hỏi "Tình yêu là gì?", vì quá nhiều bài viết, quá nhiều người đã cố gắng đưa ra khái niệm này nên tôi nghĩ mình không cần phải lao đầu vào con đường vốn dĩ không có lối ra trong việc cố gắng định nghĩa "tình yêu là gì?" nhưng qua bài viết này tôi sẽ trình bày quan điểm của tôi về yếu tố cốt lõi duy trì tình yêu hay nói cách khác tình yêu tồn tại dựa trên nền tảng gì?


Tôi khẳng định với các bạn những gì mà tôi viết ra sau đây không hẳn là dựa trên những gì mà tôi trải qua mà phần lớn là những gì tôi nghe được, thấy được, đọc được và cảm nhận được qua những mối quan hệ của những người xung quanh, trên film, báo chí, và các diễn đàn mạng....

Trước hết, tôi cho rằng tình yêu được tồn tại dựa trên một nguyên tắc cốt lõi đó là "tính duy nhất"!? "Tính duy nhất" là gì? Sau đây là câu trả lời:

Không có loại tình cảm nào mà tính duy nhất được nhấn mạnh như tình yêu, bạn có thể có nhiều người bạn thân, bạn có thể mặc định đồng ý việc cha mẹ bạn cùng lúc quan tâm đến tất cả anh em của bạn, bạn dễ dàng chấp nhận bạn thân của bạn có người bạn thân khác nhưng không bao giờ bạn có thể chấp nhận người  yêu của bạn cùng lúc yêu hai hay nhiều người khác nhau.

Tính duy nhất ở đây có nghĩa là bạn chỉ được phép yêu tôi mà không được phép yêu bất kì người nào khác ngoài tôi, tất cả nội tại có trong tình yêu của bạn chỉ được phép dành cho tôi mà không phải là người nào khác, bạn chỉ được phép nói yêu tôi, thương tôi, nhớ tôi (theo nghĩa là yêu)... mà không được thể hiện những tình cảm như vậy với người nào khác.

Tình yêu một sản phẩm xã hội, nó không phải là bản chất con người, cho nên tính duy nhất của tình yêu là do sự phát triển của xã hội tạo nên, nó là sản phậm của kiến trúc thượng tầng, chứ không thuộc về bản năng. Bản năng con người khi sinh ra không có khái niệm về tình yêu mà chỉ có một nhiệm vụ thuộc về bản năng đó là duy trì nòi giống.

Mời bạn quay lại thời kỳ sơ khai của loài người khi loài người sống theo kiểu bầy đàn, tại thời kỳ này nếu có tồn tại tình yêu thì yếu tố duy nhất chắc chắn sẽ không được đề cao vì con người quan hệ theo bầy đàn, không ai quan tâm đến việc người đàn ông này, người phụ nữ này là của tôi và chỉ mình tôi được quan hệ. Sang đến thời kỳ phong kiến, tư liệu sản xuất vẫn yêu cầu sức mạnh nên người đàn ông được coi trọng, chính vì vậy chuyện người đàn ông có nhiều vợ được xem như là bình thượng mặc dù có sự đố kỵ giữa những người vợ nhưng họ không bao giờ dám bắt người chồng phải bỏ những người kia và chỉ yêu một mình họ. Như đã từng đề cập trong bài viết trước dây, chính vì sự phát triển của công cụ sản xuất, khoảng cách giữa việc người đàn ông và người phụ nữ được thu hẹp dần và cũng nhằm hạn chế sự sinh sản dường như không thể kìm hãm của loài người gây mất cân bằng sinh thái, loài người dường như không có đối thủ trong chuổi thức ăn nên tự thân loài người phải xây dựng nên một công cụ để kìm hãm lại sự sinh sôi nãy nở vượt quá tầm kiểm soát, bên cạnh đó người phụ nữ cũng đấu tranh để khẳng định quyền của mình trong xã hội, dần dần hình thành nên quy tắc người phụ nữ có quyền được đòi hỏi người đàn ông không được có người phụ nữ khác.

Theo thời gian, tình yêu ra đời như một phần tất yếu theo đòi khỏi khách quan của xã hội và đồng hành với đó là sự lên ngôi của tính duy nhất. Anh chỉ được yêu em hay em chỉ được yêu anh...

Đặc tính cố hữu của con người là sự ích kỷ, bất kỳ hành động nào dù được đánh giá là vì cộng đồng hay vì người thân hay vì bất kỳ ai mà người thực hiện hành vi quan tâm đều xuất phát từ việc người đó cho là đúng đắn và cần thiết tại thời điểm thực hiện hành vi, nghĩa là khi tôi chia cho bạn một nữa mẩu bánh mà tôi có không hoàn toàn vì tôi quan tâm đến bạn mà còn vì nếu tôi ăn hết mẩu bánh đó tôi cho rằng mình sẽ không "hạnh phúc" sau này nên tôi chia cho bạn một nữa mẩu bánh mà tôi có, một người mẹ hy sinh cho con mình những gì tốt nhất không hẳn vì người mẹ đó quan tâm và yêu thương con mà còn vì nếu như người mẹ không hy sinh thì người mẹ sẽ cảm thấy mặc cảm tội lỗi sau này, chính vì vậy sự hy sinh đó nhằm giải phóng đi sự ăn năn, xấu hổ, mặc cảm tội lỗi trong tương lai mà người mẹ cho rằng mình sẽ gặp phải nếu như không làm điều đó, tuy nhiên khi thực hiện hành vi đó người mẹ sẽ phủ nhận đi sự ích kỷ này của bản thân vì đôi lúc người ta không nghĩ đến bản chất của hành vi mình thực hiện mà cho rằng đó là việc nên làm.

Tính ích kỷ của con người kết hợp với tính duy nhất của tình yêu ép buộc chúng ta chỉ được phép tồn tại tình yêu giữa hai cá thể (việc tôi sử dụng cụm từ "hai cá thể" mà không phải giữa "nam - nữ" không đồng nghĩa với việc tôi ủng hộ quan hệ đồng tính, tôi phản đối quan hệ đồng tính vì những cá thể quan hệ đồng tính không thực nhiệm vụ cơ bản của loài đó là duy trì nòi giống, bạn không thực hiện nghĩa vụ cơ bản thì bạn không có quyền đòi hỏi quyền cơ bản), nó tạo ra sự gắn kết giữa hai cá thể lớn tới mức có thể vượt qua tình mẫu tử (một tình cảm mà tôi cho là thiêng liêng nhất trong tất cả các loại tình cảm tồn tại trong xã hội từ trước tới nay), vì tình yêu sẽ là nền tảng tạo nên một gia đình, một tế bào của xã hội và còn góp phần thực hiện một nhiệm vụ quan trọng mà từ lúc sinh ra một cá thể người phải thực hiện - góp phần duy trì nòi giống - một cách có kiểm soát.

Vậy, làm sao để tính duy nhất được đảm bảo hay nói cách khác làm sao tình yêu có thể tồn tại được giữa hai người trong xã hội?

Để tính duy nhất tồn tại thì phải đảm bảo được không có sự lựa chọn tốt hơn thay thế, có vẻ giống với kinh tế học về thuyết cơ hội nhưng quả thật không khác là mấy, con người luôn vươn tới những cái tốt đẹp hơn (còn thế nào là tốt đẹp hơn thì không có một chuẩn nhất định mà phụ thuộc vào "cơ sở dữ liệu" của từng người), mặc dù họ đã xây dựng nên một tình yêu nhưng họ luôn tìm kiếm những mối quan hệ ở những cá thể tốt hơn mà họ có thể gắn kết được nhưng bạn không phải lo lắng quá nhiều về việc đó, vì có những cơ chế kìm hãm sự tìm kiếm lựa chọn tốt hơn, có thể kể đến là nỗi sợ hãi khi phải thay đổi, sự neo đậu thông tin (tôi không thích dùng thuật ngữ này, tôi thích dùng thuật ngữ "tính quán tính của thông tin" hơn, nhưng tại sao tôi dùng thì bạn có thể tìm kiếm bằng google xem ai là người khai sinh ra thuật ngữ này), bản năng thích nghĩ về những kỷ niệm đẹp nhiều hơn là đau khổ... Mỗi cơ chế phát huy hiệu quả ở những giai đoạn khác nhau, ví dụ con người thường nghĩ về kỷ niệm đẹp hơn là đau khổ mà họ trải qua trong đời. Bạn và người yêu hay với bất kỳ người nào khác có xung đột với nhau nhưng sau khi đã qua bạn nhớ về người đó với những kỷ niệm đẹp nhiều hơn là chuyện buồn, thậm chí nhiều khi niềm vui mà bạn nhớ lại vượt quá mức thực tế mà bạn đã trải qua. Nhờ điều này mà bạn có thể vượt qua được chuyện không vui để hàn gắn mối quan hệ.

Các cơ chế này đảm bảo duy trình tình yêu giữa hai cá thể nếu như hai cá thể này cảm thấy hạnh phúc thì việc tìm kiếm sự lựa chọn tốt hơn thay thế là gần như không có và giả sử có thì nó cũng bị các cơ chế bảo đảm như tôi đã nói vùi dập trong tích tắc!

Như vậy, nếu bạn không thể đảm bảo được tính duy nhất trong tình yêu, bạn sẽ không thể đảm bảo tình yêu của bạn có thể tồn tại lâu được dù bạn là một người nói dối đủ tốt thì sự thật sẽ bị phơi bày một ngày nào đó. Nên nhớ rằng, không có bất kỳ hạnh phúc nào có thể xây dựng dựa trên sự giả dối.

Tháp nhu cầu Maslow - Động lực thúc đẩy con người lao động

Nhu cầu là một phần quan trọng trong bản chất của con người. Mọi giá trị, niềm tin và tập tục của con người là khác biệt tuỳ theo từng quốc gia hay từng nhóm người, tuy nhiên tất cả mọi người có những nhu cầu chung giống nhau.


Vào năm 1954, Abraham Maslow đã đưa ra đưa ra quan điểm về nhu cầu của con người và nhu cầu này được sắp xếp theo các thứ bậc khác nhau. Học thuyết của ông được dựa trên những con người khoẻ mạnh, sáng tạo, những người sử dụng tất cả tài năng, tiềm năng và năng lực trong công việc. Vào thời điểm đó, phương pháp này khác biệt với các công trình nghiên cứu tâm lý con người khác được dựa trên việc quan sát con người bị chi phối bởi các phiền muộn là chủ yếu.

Có hai nhóm nhu cầu chính của con người: Nhu cầu cơ bản (basic needs) và Nhu cầu bậc cao (meta needs).

Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý như thức ăn, nước uống, ngủ nghỉ và các yếu tố tâm lý như cảm xúc, cảm giác an toàn, lòng tự tôn. Những nhu cầu cơ bản này cũng được gọi là các nhu cầu thiếu hụt (deficiency needs) vì nếu con người không có đủ những nhu cầu này, họ sẽ đấu tranh để có được nó, bù đắp bằng được sự thiếu hụt.

Các nhu cầu cao hơn được gọi là nhu cầu bậc cao hay nhu cầu hiện hành (nhu cầu phát triển). Những nhu cầu này bao gồm sự công bằng, lòng tốt, vẻ đẹp, thứ bậc, sự đồng lòng nhất trí, v.v… Các nhu cầu cơ bản thông thường bao giờ cũng được ưu tiên hơn những nhu cầu phát triển này. Ví dụ, một người nếu thiếu thức ăn hay nước uống sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về sự công bằng hay vẻ đẹp.

Những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp. Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp nhu cầu (từ 1-4) phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Bốn nhu cầu bậc cao (từ 5-8) có thể được thoả mãn không theo trình tự, tuỳ từng trường hợp nhất định trong từng hoàn cảnh hay mong muốn khác nhau của con người, miễn là tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới đã được đáp ứng đầy đủ.

Tháp nhu cầu của Maslow:
 
8. Nhu cầu về tự tôn bản ngã (Self-transcendence): Một trạng thái siêu vị kỷ (xem Chú giải ở dưới) hướng đến trực giác siêu nhiên, lòng vị tha, hòa hợp bác ái. (Trạng thái siêu vị kỷ (Transegoic) có nghĩa là trạng thái phát triển tinh thần cao hơn, huyền bí, tâm linh. Chữ trans có liên quan đến transcendence (tính vượt trội, siêu việt), trong khi chữ ego (cái tôi) có liên quan đến công trình của Freud. Chúng ta đi từ mức preEGOic (cái tôi sơ khởi) tới mức EGOic (cái tôi) để rồi đến transEGOic (cái tôi vượt trội). Từ EGO (cái tôi) trong cả ba khái niệm đều được sử dụng trong sự tự nhận thức, đối lập với tiềm thức. Cái tôi tương tự như tính cách cá nhân, nhân cách. Lúc đầu, trong mô hình của Maslow, mục tiêu cuối cùng của cuộc sống là thể hiện bản thân (self-actualization), đây là mức không bao giờ có được một cách đầy đủ nhưng là điều gì đó con người luôn đấu tranh để có được. Maslow sau này phát triển lý thuyết rằng, mức này chưa phải là tận cùng, tháp tiếp tục được nâng thêm một bậc nữa là sự vượt trội hơn mọi người (self-transcendence), nó đưa chúng ta đến mức tối cao về tinh thần như Gandhi, mẹ Theresa, Đạt Lai Lạt Ma, hay thậm chí các nhà thơ, chẳng hạn như Robert Frost. Mức cao nhất này của Maslow ghi nhận những nhu cầu của con người dành cho luân lý, sáng tạo, lòng trắc ẩn và tâm linh. Nếu không có cảm giác tâm linh hay transegoic (cái tôi vượt trội), chúng ta đơn giản chỉ là động vật hay những máy móc mà thôi. Thêm vào đó, giống như đối với sự thể hiện bản thân nhất thời (temporary self-actualizations); chúng ta cũng có đỉnh điểm kinh nghiệm với sự vượt trội của cái tôi (self-transcendence). Đó chính là những khoảnh khắc sáng tạo tâm linh của chúng ta.)

7. Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (Self-actualization): Biết chính xác bạn là ai, bạn đang đi đâu và bạn muốn hoàn thành những gì. Một trạng thái của sự thành đạt.

6. Nhu cầu về thẩm mỹ (Aesthetics): Sự yên bình, ham muốn hiểu biết về những gì thuộc nội tại.

5. Nhu cầu về nhận thức, hiểu biết (Cognition): Học để hiểu biết, góp phần vào kiến thức chung.

4. Nhu cầu được quý trọng, kính mến (Esteem): Cảm thấy được thăng tiến trong đời, được công nhận và ít băn khoăn về năng lực bản thân.

3. Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (Belongingness and love): Muốn được thuộc về một nhóm, muốn có gia đình, bạn bè thân hữu tin cậy.

2. Nhu cầu về an toàn (Safety): Cảm giác yên tâm không phải lo sợ trước những nguy hiểm cận kề.

1. Nhu cầu về sinh lý (Physiology): Thức ăn, nước uống, nơi trú chân, tình dục.

Maslow cho rằng con người muốn và luôn đấu tranh để thoả mãn những nhu cầu khác nhau. Xuất phát từ việc những mức nhu cầu bậc thấp bao giờ cũng cấp thiết và quan trọng hơn, nên chúng sẽ đóng vai trò như nguồn và định hướng của một mục tiêu cá nhân nếu những nhu cầu này không được thoả mãn.

Sau khi những nhu cầu bậc thấp được thoả mãn, những nhu cầu cao hơn sẽ là động cơ hành động. Những nhu cầu chưa được thỏa mãn ở bậc dưới sẽ lấn át những nhu cầu chưa được thỏa mãn ở bậc cao hơn, và chúng cần được thỏa mãn trước khi một cá nhân tiến lên các bậc cao hơn của tháp nhu cầu.

Lưu ý: Tháp nhu cầu của Maslow cũng có thể được trình bày dưới dạng kim tự tháp 5 tầng: Nhu cầu Sinh lý, Nhu cầu An toàn, Nhu cầu Tình cảm, Nhu cầu Tự tôn và Nhu cầu Phát triển.

Trên đây là một trong vô số bài viết mà các bạn có thể tìm kiếm bằng Google để tìm hiểu về tháp nhu cầu Maslow, và tôi chọn 01 trong số đó để đưa vào bài viết vì theo tôi đoạn trích trên rất ngắn gọn và đủ ý về tháp nhu cầu Maslow.

Liên quan đến tính đúng đắn của tháp nhu cầu Maslow cũng có nhiều tranh cãi và quan điểm trái chiều nhau, ủng hộ có, đả kích có, phản bác có… Và đó như là một điều tất nhiên khi chúng ta ủng hộ phản biện xã hội, ngay cả các định luật của Newton cũng tồn tại tính tương đối khi xem xét sự đúng đắn của nó, thì tháp nhu cầu của Maslow về vấn đề tâm sinh lý con người vốn rất phức tạp mà gặp phải những vấn đề trên thì cũng không có gì là bất thường.

Theo quan điểm của tôi thì không tồn tại ranh giới rõ ràng giữa các tầng tháp (bậc nhu cầu) với nhau và các tầng này thay thế nhau chi phối hành vi của con người nên không thể xét chúng ta đang ở đâu trong các bậc của tháp nhu cầu của Moslow mà chỉ xét tại một thời điểm nhất định đối với một các nhân cụ thể. Tuy nhiên, tôi ủng hộ lập luận rằng các nhu cầu căn bản chi phối các nhu cầu bậc cao.

Bạn thấy đấy, chúng ta không thể học tập, cống hiến với một cái bụng đói meo được như ông bà ta vẫn dạy “có thực mới vực được đạo”, chính vì vậy cho dù bạn là Giáo sư, Tiến sĩ… đi chăng nữa thì lúc bạn đói bạn vẫn bị nhu cầu căn bản chi phối buộc bạn phải đáp ứng trước cũng giống như tôi một người bình thường khi đói cũng phải tìm kiếm thức ăn.

Một điểm nữa, mỗi người có một ngưỡng khác nhau về nhu cầu. Ví dụ với tôi một bữa tối có thể chỉ cần một ổ bánh mì là được nhưng với người khác họ cần một tô phở, một bữa cơm đầy đủ các món. Đối với tôi một ngày chỉ cần tắm một lần là được nhưng với nhiều người họ cần tắm từ 02 lần trở lên… và tôi thực sự quan ngại về việc lãng phí nước ngọt khi chúng ta tắm từ 02 lần trở lên, mặc dù có bằng cho rằng tồn tại một lượng nước không lồ cách bề mặt trái đất hơn 600km, tin tôi đi con người có tồn tại được cho đến khi phát triển công nghệ khai thác được nguồn nước nói trên hay không là một dấu hỏi lơn chưa có lời đáp.

Nói như thế vì tôi cho rằng chúng ta không khác nhau về loại nhu cầu, chúng ta chỉ khác nhau về ngưỡng, mức của các nhu cầu và trong chính chúng ta ngưỡng nhu cầu cũng sẽ thay đổi theo thời gian như tôi đã ví dụ ở trên. 

Trong đời sống hàng ngày, mỗi hành vi chúng ta thực hiện đều bị chi phối bởi các nhu cầu trên, nhưng không thể xét sự tác động này trong một quãng thời gian mà chỉ thể xét tại một thời điểm nhất định nhu cầu nào đang chi phối mạnh mẽ nhất. Việc đoán biết được điều này giúp bạn có rất nhiều lợi thế trong việc điều khiển người khác hoặc có thể đọc vị được họ đang nghĩ gì, tuy nhiên không phải ai hiểu về tháp nhu cầu của Maslow đều có thể làm được điều này (bạn có thể đọc thêm các bài viết về thuật đọc nguội bằng cách tìm kiếm thông tin thông qua Google)

Mặc dù tôi cho rằng không có việc chi phối lên hành vi của một nhu cầu là xuyên xuốt, liên tục đối với một người trong một khoảng thời gian mà chỉ có thể xét tại một thời điểm nhưng tần xuất chi phối thì có thể đoán biết được. Ví dụ nhu cầu về thức ăn không quá quan trọng với Bill Gate vì tới tài sản của ông ta thì việc đáp ứng như cầu này quán đơn giản nên nhu cầu căn bản này không chi phối nhiều đến hành vi của ông ta nếu xét trong một khoảng thời gian. Nhưng nếu cũng là là Bill Gate nhưng ông ta bị lạc tới đảo hoang như Robison thì nhu cầu về thức ăn sẽ chi phối ông ta nhiều nhất. Như vậy, có thể thấy rằng dựa trên địa vị, tài sản và vị trí của một người trong xã hội chúng ta có thể đoán biết được họ đang bị nhu cầu nào chi phối với vị trí chủ đạo.

Và sự ham muốn thõa mãn các nhu cầu trong tháp Maslow của mỗi người cũng khác nhau, thúc đẩy chúng ta phải cố gắng đáp ứng các nhu cầu đó, nhưng may thay tồn tại trong mỗi chúng ta có một thứ mà chúng ta thường gọi bằng cái tên mỹ miều “Tòa án lương tâm” để ngăn cản chúng ta khi đi lệch chuẩn, đạt được mục đích với bất kỳ thủ đoạn nào. Tuy nhiên, không phải tòa án lương tâm nào cũng có thể hoàn thành nhiệm vụ khi cám dỗ tác động lên ý chí là quá lớn thì việc đoàn tàu bị lệch đường ray cũng không phải quá hiếm.

Nhận thức và ám thị - Ngưỡng tuyệt đối

Đây là một bài viết hay, lý giải khá chi tiết về sự ám thị thông tin của con người. Bộ não của bạn không phải lúc nào cũng "cùng phe" với bạn cả. Bài viết được đăng trên website Tâm lý học tội phạm (bạn có thể vào đường dẫn gốc tại cuối bài viết), xin được đăng lại:

Trước khi nói về ám thị thì hãy để tôi nói về cơ chế của nhận thức và suy nghĩ. Đây là một khái niệm rất thông thường nhưng đồng thời cũng rất quan trọng. Với cách phân tích này thì ám thị và thôi miên đều dựa trên nền tảng khái niệm đó.


Như mọi người đều biết, con người có năm giác quan, Thính giác (nghe), Thị giác (nhìn), Xúc giác ( cảm giác qua da thông qua tiếp xúc, đụng chạm), Vị giác ( mùi vị), Khứu giác (mùi hương). Khi kích  thích các giác quan trên sẽ tạo ra tín hiệu truyền đến bộ não, từ đó quyết định ra phản ứng, suy nghĩ, hành động. Trong tâm lý học có một khái niệm gọi là ‘Absolute Threshold’ , tôi xin tạm dịch là ‘Ngưỡng tuyệt đối’ . Không phải bất kỳ kích thích nào cũng có thể tạo ra tín hiệu truyền đến bộ não, kích thích phải đạt được một mức độ nhất định để bộ não có thể nhận ra tín hiệu và phân tích. Nói một cách dễ hiểu thì Ngưỡng tuyệt đối là giới hạn thấp nhất mà kích thích phải đạt được để não bộ có thể  nhận ra,  phân tích và quyết định. Mỗi người có một Ngưỡng tuyệt đối khác nhau và phải thông qua thí nghiệm mới xác định được Ngưỡng tuyệt đối của từng người. Quá trình phân tích và xếp loại thông tin chính là “suy nghĩ”. Thông tin qua các giác quan được truyền đến não bộ, được não bộ “nhận thức” sau đó tiến hành quy trình sàng lọc.


ice berg

Có thể so sánh quá trình suy nghĩ nhận thức của con nguời như tảng băng trôi ở hình bên trên. Tất cả những kích thích vượt qua khỏi mặt nước và, được “nhận thức” tiếp nhận đưa vào quá trình suy nghĩ và phân loại thông tin. Còn lại những kích thích không vuợt qua khỏi nguỡng tuyệt đối, tức ở dưới mực nước, không hề biến đi mà vẫn tồn tại trong tiềm thức. Có thể nói tiềm thức là không giới hạn, nhưng nó có vai trò quan trọng, ảnh hưởng lên hành vi và suy nghĩ.


 Ám thị, theo tôi, chính là tạo ra những kích thích dưới Ngưỡng tuyệt đối, đưa thông tin vào não bộ để lưu trữ nhưng do kích thích chưa chạm đế Ngưỡng tuyệt đối nên não bộ không kịp phân tích, liệt kê và so sánh. Thế nên ám thị nguy hiểm ở chỗ là não bộ không thể phân loại thông tin xấu, tốt mà cứ lưu trữ nó, liên tục, ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, tín hiệu chồng lên tín hiệu, tạo ra hiệu quả khó lý giải.


Ám thị và nhận thức liên quan tới ý tuởng điều khiển trí óc. Điều này có nghĩa là một cá nhân hay một nhóm nguời nào đó có thể bị điều khiển mà họ không hề hay biết. Thông điệp được tiếp nhận dưới nguỡng tuyệt đối.


Ám thị xảy ra khi thông điệp, hoặc ý nghĩ ở dưới ngưỡng tuyệt đối, ngưỡng kích thích của nhận thức, ảnh hưởng đến suy nghĩ, cảm xúc và hành động. Một tin nhắn, một ý tưởng hay sự kích thích nào khác đều nằm dưới ngưỡng tuyệt đối và trong tiềm thức khi nó  chỉ ở mức độ cảm giác mà không có quá trình nhận thức. Khi những kích thích từ môi trường (từ ngữ, ký hiệu, âm thanh) được cảm nhận và ghi dấu, thì phần “đại diện” của não bộ sẽ bắt đầu hoạt động, khiến cho những thứ có liên quan đến nó như hệ thống, mục tiêu, hành vi có xu hướng tăng dần, thâm nhập dễ dàng vào trí nhớ. Như hệ quả, những thông điệp dưới ngưỡng tuyệt đối có thể “ám thị” những hành vi được khởi động trong tâm trí bởi vì nó làm nâng cao khả năng ảnh hưởng và làm tăng tỷ lệ hành động.


Có hai cách cơ bản để ám thị đó là thông qua từ ngữ và âm thanh. Bằng việc trộn lẫn một chút ít thông tin thuyết phục trí não, con người bị điều khiển bởi chính ngôn ngữ họ dùng. Một ví dụ ám thị thông qua âm thanh ngược về những năm 1920s khi đài BBC bắt đầu phát sóng radio lần đầu tiên. Người dân thời đó cho rằng radio là điềm xấu  và coi đó là giọng nói của quỷ. Đài BBC dĩ nhiên muốn thay đổi suy nghĩ này. Cho nên họ để lẫn một cụm từ nói ngược ẩn dưới một đoạn tuyên truyền ngắn. Khi phát sóng, đoạn tuyên truyền này nghe rất rõ và có vẻ chẳng có gì khác biệt cả. Nhưng khi được quay nguợc lại, nó mang một thông điệp đúng nghĩa “Đây không phải là thòng lọng của quỷ dữ, không, nó không phải.” Đài BBC tin rằng tiềm thức tiếp nhận thông tin này theo cách nói thuận thông thường. Và hiển nhiên BBC vẫn còn tồn tại đến ngày nay, vậy ắt hẳn đoạn tuyên truyền đó đã làm tốt nhiệm vụ của mình chứ?


Những kích thích dưới dạng âm thanh và hình ảnh có thể được tiếp thu ở tiềm thức dưới các loại điều kiện khác nhau. Hình ảnh được ẩn dưới những thiết kế phức phạp, lời nói bị che phủ bỡi âm thanh ồn ào có thể sẽ không dễ dàng nhận ra được, nhưng những bài test về những thông điệp hay tín hiệu này cho thấy nó được ghi vào tiềm thức. Những nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của ám thị lên những hành vi chính thường thực hiện bằng cách lướt nhanh qua từ ngữ hoặc hình ảnh trên màn hình vi tinh trong 100 đến 300 phần nghìn giây- quá nhanh để có thể đạt được đến tầm nhận thức.


Trong những năm 1970s, nhà tâm lý học của trường đại học Cambridge, Anthony Marcel đã đi truớc và thực hiện thí nghiệm về ám thị và điều khiển. Trong lúc thực hiện thí nghiệm, ông cho lướt qua, rất nhanh một số từ ngữ chỉ màu sắc như màu đỏ, xanh da trời dưới nguỡng tuyệt đối. Bằng cách này, ông đạt được sự vô hình hoàn toàn: mỗi người tham gia thí nghiệm đều nói rằng họ thật sự không thấy từ nào. Ngay cả khi được nói là có từ ẩn, họ vẫn không nhận ra. Khi được hỏi, những người ấy vẫn không thể trả lời được rằng đó là từ tiếng anh, hay là từ ngữ vô nghĩa nào đó. Tuy nhiên, Marcel vẫn có thể chứng minh được rằng não bộ của những người tham gia thí nghiệm đã tiếp thu toàn bộ thông tin. Sau khi nháy những từ ngữ về màu sắc ấy, ông yêu cầu những người tham gia thí nghiệm chọn mảnh vải có màu sắc tương ứng. Với những người đã được nháy từ về màu sắc, chọn màu 1/20 giây nhanh hơn những người bị nháy những từ không liên quan (ví dụ dưa hấu, bàn…). Vì thế, từ ngữ màu sắc mà họ không thấy, có thể khiến cho họ có xu hướng chọn màu tương đồng. Điều này dường như là minh chứng cho thấy tiềm thức có thể tiếp thu hết thông tin ẩn giấu.


Vào năm 1922, Đại tuớng George Squier sáng chế ra Muzak, nhạc được truyề từ đĩa than đến nơi làm việc thông qua dây điện. Muzak được viết chương trình rất cẩn thận, và được chứng minh rằng nó có tác dụng thúc đẩy khả năng làm việc, luợng hàng bán ra cao, và ngăn ngừa trộm cắp. Hơn hai mươi năm về trước, nhiều cửa hàng văn phòng ở US và Canada đã lắp đặt một thứ gọi là “hộp đen nhỏ” , đó là âm nhạc pha lẫn một số thông điệp chống trộm. Những thông điệp “Tôi là người trung thực, tôi sẽ không trộm cắp”được lặp đi lặp lại 9000 lần trong 1 giờ với âm lượng khó có thể nghe ra đã giúp cho tỷ lệ trộm cắp ở một cửa hàng giảm đến 37% trong vòng 9 tháng thử nghiệm.


Vào năm 1973, cuốn sách “Sự quyến rũ của tiềm thức” của Wilson Bryan Key khiến cả cộng đồng bắt đầu quan tâm về việc ám thị được dùng rộng rãi trong các quảng cáo ở U.S. Kết quả là,  ban phát ngôn của Liên bang khẳng định rằng việc dùng những thông điệp ẩn trong quảng cáo là hình thức của việc chủ động lừa dối, đi ngược lại với mong muốn của đồng. Vì thế, những nhà quảng cáo đều tán thành việc sử dụng ám thị trong quảng cáo là không hợp với quy cách và có thể có những hệ quả đáng lo ngại lên xã hội nếu không được phát hiện.


Ngoại trừ những thứ này, các nghiên cứu còn chỉ ra, mức độ gợi ý của ám thị chỉ giới hạn vào từ ngữ, hình ảnh hoặc âm thanh cực kỳ quen thuộc , đơn giản và trừu tượng.


Ý nghĩa của thông điệp nhận được không thể hoạt động  ở mức tiềm thức trừ khi có “đại diện” trong não bộ hoạt động sẵn. Vì thế, những từ ngữ, hình ảnh, hay khái niệm khó có thể ảnh hưởng lên suy nghĩ và hành vi khi nó vẫn còn ở mức tiềm thức. Ví dụ như một nhãn hiệu lạ hoắc nào đó sẽ khó có thể “ám thị” bạn mua hàng nếu như bạn không biết gì về nó. Nghĩa là hình ảnh/ khái niệm/ thông điệp phải tồn tại sẵn, thì ám thị mới có thể làm tăng khả năng bạn làm ra các hành vi liên quan tới nó. Nếu không thì nó sẽ mãi nằm ở tầng tiềm thức và không được nhận biết.


Ám thị và thôi miên đều dựa trên cách nắm bắt Ngưỡng giới hạn và đưa ra những kích thích dưới mức đó. Thôi miên là khiến cho bạn hạ rào chắn tâm lý xuống, bỏ đi phòng bị, để cho những mệnh lệnh của người thôi miên đi thẳng vào trong não bộ và làm theo chúng. Đây chính là ám thị bằng thôi miên, mà theo tôi cũng là kiểu ám thị trực tiếp, mệnh lệnh được đưa ra rõ ràng, thời gian cần để hoàn thành ám thị trực tiếp nhanh hơn ám thị gián tiếp nhưng với điều kiện người bị ám thị phải hoàn toàn tuyệt đối tin tưởng người ám thị.


Tuy nhiên, ám thị chỉ có thể ảnh hưởng người ta làm ra những hành động có liên quan. Ví dụ như thông điệp tiềm thức của hãng Coca có thể đưa suy nghĩ “uống” hoặc “khát” lên nhận thức của não bộ, nhưng loại thức uống mà bạn mua không nhất thiết phải là Coca. Vì thế nên ám thị mang tính “gợi ý” nhưng không bao giờ bắt buộc.


Một nhà tâm lý học nổi tiếng người Anh, Derren Brown, đã thực hiện một thực nghiệm cho thấy mối liên quan giữa Ngưỡng tuyệt đối và ám thị, cách mà anh đưa thông điệp vào não bộ người khác, vô hình điều khiển, khiến cho người ta làm theo và cho ra kết quả giống như ý muốn của anh. Derren mời hai người làm trong ngành quảng cáo đến từ Mỹ để thiết kế tấm poster quảng cáo cho bất kỳ cửa hàng, công ty nào mà họ thích. Tấm áp phích phải có bảng hiệu, tiêu đề tượng trưng cho sản phẩm hay slogan, nhãn hiệu. Khi hai người hỏi Derren sản phẩm mà họ phải dựa trên để làm poster là gì thì Derren chỉ một loạt tượng gấu, đầu hươu, con mèo chết được nhồi bông… Derren đã có bản thiết kế riêng của mình. Và anh đoan chắc là ý tưởng của hai nguoi nọ sẽ giống mình. Thật vậy, khi hai nhà quảng cáo so sánh bản vẽ của mình với Derren, họ ngỡ ngàng thì thấy bản vẽ trùng ý tưởng đến 90%. Cả hai cùng làm tấm poster cho một nơi lo chuyên lo hậu sự cho thú cưng của bạn khi chúng mất. Cả hai bản vẽ đều có hình ảnh con gấu đang ôm đàn hạc, đôi cánh thiên thần, cánh cổng với bảng hiệu Zoo và dòng chữ Heaven (best place for dead animal). Chỉ khác ở chỗ vị trí của các hình ảnh.  Họ không hiểu vì sao Derren có thể đọc được suy nghĩ của họ mà làm ra một bản vẽ y chang đến thế. Thưc sự thì Derren dùng khái niệm Ngưỡng tuyệt đối để lồng thông điệp vào trong não bộ họ. Khi đón hai người từ sân bay, anh cố ý lái xe đi vòng vòng quanh phố, này thì một đoàn người mặc áo xanh in hình cánh cổng với chứ Zoo làm bảng hiệu, này thì cửa hàng trưng bày một cây đàn hạc ngay bên cửa kiếng, này thì hình ảnh đôi cánh với dòng chữ heaven bên dưới, này hình nguyên một bức tượng gấu ở trong văn phòng. Derren cố ý để những bức hình đó ở nơi dễ thấy nhất nhưng không quá nổi bật, chỉ đủ để họ có hình ảnh đó trong khu dữ liệu và tạo ra kết quả như anh mong muốn.

Thực nghiệm của Derren Brown:






Dưới đây là một số bức hình về ám thị dùng trong quảng cáo. Thông thường sex là từ được ám thị nhiều nhất.



Dốc ngược ảnh xuống, bạn thấy được gì?


Một bức ảnh quảng cáo trên sách địa chỉ rất bình thường, nhưng khi đảo ngược lại??? Không bình thường nữa…


Tạp chí SFX hữu ý vô tình dùng hình ảnh của Jennifer Alba chèn lên tên báo để tạo ấn tượng sexy về cô.


Nhà thần kinh học James Fallon có nói trong cuốn tự truyện của ông, “Kẻ thái nhân cách bên trong”, “Trong khi chúng ta nghĩ rằng mình lên kế hoạch cho mọi hành động của mình và rồi tự làm nó, trong một số trường hợp,  phần nào đó của thùy trước não đã quyết định trước chuyện muốn làm, trong tiềm thức, rồi khi chúng ta hành động, chúng ta tự lừa dối bản thân bằng việc nghĩ rằng mình quyết định nó. Nói cách khác, chúng ta tự lừa chính mình rằng chúng ta nắm quyền điều khiển mọi hành động của bản thân. Đây là lý do vì sao sự cần thiết về mặt an ủi, logic, tự nói chuyện có thể đánh lừa sự tồn tại của nhận thức. Cơ thể và bộ não chúng ta hoạt động hài hòa và quyết định cần phải làm gì, và sau đó, chúng ta có thể tự kể một câu chuyện thuyết phục bản thân rằng chúng ta muốn làm điều đó. 

NGUỒN

Nhịp đập của tim – Tại sao loạn nhịp ?

Hoạt động của tim được điều khiển bởi não bộ thông qua cơ chế bị động mà chúng ta không thể điều khiển được. Thần kinh giao cảm và trung khu ức chế sẽ chi phối sự đập nhanh hay chậm của tim. Trung khu ức chế quản lý hoạt động của thần kinh, có thể khiến tim đập chậm. Trung khu gia tốc quản lý hoạt động của thần kinh giao cảm, có thể khiến tim đập nhanh. Hai loại thần kinh này tác động hỗ trợ lẫn nhau, quyết định sự đập nhanh hay chậm của tim. 

Não bộ của con người có phản ứng với bất cứ kích thích nào từ bên ngoài hay hoạt động trong tim. Vỏ não là cơ quan quản lý cao nhất đưa ra các phản ứng đối với các kích thích này. Khi ta ở trong trạng thái lo lắng thì võ não chỉ thị cho trung khu gia tốc, thông qua thần kinh giao cảm làm tim đập nhanh. Nếu như ta ngủ hoặc nghỉ ngơi thì hoạt động của cơ thể vô cùng ít, não không phải làm việc nhiều, năng lượng cần tiêu hao cũng ít chính vì vậy tim sẽ đập chậm. Và trong bài viết này, tôi sẽ đưa ra một số lý giải về sự loạn nhịp của tim mà chúng ta thường không hiểu vì sao (lưu ý: tôi chỉ giới hạn ở mức độ tương tác giữa não bộ và nhịp đập của tim, tức là yêu tố cảm xúc và một số cơ chế tự động của não bộ, không bàn đến các nguyên nhân ảnh hưởng đến tim như lối sống, ăn uống, sử dụng các chất kích thích có hại….)

Stephen Porges, một nhà tâm sinh lý học và là một giáo sư của trường Đại Học IlIonois ở Chicago đã đưa ra Học Thuyết Đa Thần Kinh Phế Vị (Polyvagal Theory) liên kết các cảm nhận vô thức (unconscious perception) về mối đe dọa và sự an toàn với nhịp tim và khả năng điều khiển trạng thái tỉnh thức của cơ thể. Học thuyết này cho rằng thần kinh phế vị (vagus nerve) trao đổi thông tin giữa bộ não và tim và gây ảnh hưởng đến các phản ứng của con người đối với các mối nguy hiểm cũng như mối quan hệ và liên kết xã hội. Học thuyết này có thể giải thích tại sao các cảm xúc tiêu cực như trầm cảm, thất vọng, hoặc thái độ thù địch có thể gây căng thẳng cho tim, trong khi đó, các cảm xúc tích cực, việc hít thở sâu và chậm, tập thể thao, và sự hỗ trợ của xã hội có thể làm dịu trái tim.

Theo giáo sư Porges, các hệ thống phản xạ của cơ thể chúng ta đối với sự nguy hiểm tồn tại theo sự phân cấp có tầng và có chức năng bảo vệ sự sống còn. Tầng dưới cùng là hệ thống phản xạ đầu tiên, tương tự như ở một số loài động vật, làm cho chúng ta bất động (chết đứng) và không cử động được khi chúng ta cảm nhận được sự nguy hiểm và vì thế không có khả năng bỏ chạy. Không biết các bạn đã từng gặp trường hợp này chưa, có nghĩa là nỗi sợ hãi vượt quá khiến bạn không còn ý thức để đối phó. Có một câu chuyện xảy ra hồi tôi còn ở KTX của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, hồi đấy có rộ lên một phong trào dọa ma thông qua các flash game như tìm điểm khác biệt giữa hai bức tranh, chủ yếu là để thu hút sự chú ý của người chơi và trong một khoảng thời gian ấn định mà người làm game cho rằng đủ để lấy hết sự tập trung của người chơi thì hình ảnh kinh dị cộng với âm thanh cực lớn để hù dọa người chơi. Một hôm, anh bạn ở phòng đối diện của chúng tôi đi qua và được bạn cùng phòng tôi mời chơi game, anh này rất chăm chú nhìn và khi bị hù anh ta nhảy từ giường tầng xuống, phóng như đạn bay về phòng mình (bạn sẽ hiểu về vấn đề này khi tôi đề cập đến hệ thống phản xạ ở tầng giữa theo quan điểm của Giáo sư Porges), lần tiếp theo là tại phòng của anh ta, bạn cùng phòng của anh ta cũng mời anh ta chơi một game khác và cam kết sẽ không có gì xảy ra, nhưng lần này anh ta đeo tai phone (lần trước là loa ngoài), và khi hết flash chúng tôi không thấy phản ứng gì từ anh ta, chúng tôi đã nghĩ rằng có lẽ anh ta đã đoán trước được nên đã chuẩn bị, tuy nhiên thật lạ lùng là âm thanh đã được vặn hết cỡ nếu như không sợ thì ít nhất cũng phải cảm thấy điếc tai chứ!? Và sự thật là anh ta sợ đến không thể phản ứng lại. Điều này có nghĩa là hệ thống phản xạ tầng dưới cùng đã hoạt động và lấn át các tầng còn lại khiến anh ta mất khả năng phản ứng bằng hành động, nói khác đi anh ta rơi vào tình trạng gọi là “tê liệt tạm thời”.

Tầng giữa là hệ thống thần kinh phế vị phức tạp hơn, duy nhất đối với các động vật có vú. Nếu bộ não của chúng ta cảm nhận được một mối đe dọa có thể trốn thoát được, thì thần kinh phế vị sẽ làm cho hệ thống đầu tiên này ngưng hoạt động, và thay vào đó, kích hoạt phản xạ “đánh hay chạy” của hệ thống thần kinh tự điều khiển. Hệ thống thần kinh giao cảm làm cho hơi thở của chúng ta trở nên ngắn hơn, và nhịp tim đập nhanh hơn, vì thế máu được bơm nhiều hơn đến các cánh tay và chân để chúng ta có thể đối phó trực tiếp với sự nguy hiểm. Điều này có liên quan đến nhịp tim đập không bình thường (như trong trường hợp đầu tiên về anh chàng ở chung KTX với tôi). Nhưng ở lần thứ hai, hệ thống thần kinh phế vị đã không thể làm cho hệ thống đầu tiên ngưng hoạt động bởi sự ức chế cảm xúc là quá mãnh liệt.

Ở tầng cao nhất của hệ thần kinh, khi bộ não của chúng ta phát hiện rằng hoàn cảnh xung quanh được an toàn, thần kinh phế vị sẽ làm ngưng lại phản ứng “đánh hay chạy” và thay vào đó, kích hoạt một hệ thống mới được phát triển, duy nhất đối với loài người. Trong hệ thống này, phần chất xám của thùy trước trán có thể trao đổi thông tin với các trung tâm não dưới để gửi đi một thông điệp rằng chúng ta được an toàn và không cần phải đề phòng sự nguy hiểm. Điều này sau đó sẽ tạo nên hệ thống quan hệ xã hội mà nó cho phép chúng ta. theo ý nghĩa sinh lý, sẵn sàng chấp nhận tiếp xúc và trao đổi thông tin với các cá nhân khác. Hệ thống này bao gồm các cơ trên mặt và tai trong. Nhờ thông qua mối quan hệ xã hội mà các trẻ sơ sinh học biết cách lắng nghe và được mẹ dỗ dành bằng giọng nói và gương mặt.

Tuy nhiên, rãnh giới hay mức độ của mối nguy hiểm để mỗi người kích hoạt các hệt thống phản vệ là khác nhau, cũng có lẽ vì điều này nên chúng ta mới có người dũng cảm và kẻ hèn nhát. Không liên quan lắm nhưng thực tế theo tôi thấy thì sống sót sau cuộc chiến chỉ có 02 người, một là kẻ hèn nhát và hai là kẻ mạnh, thực tế thì anh hùng luôn chết (One Piece)

Tôi đã giải thích cơ bản về học thuyết Đa thần kinh phế vị của Giáo sư Stephen Porges (các bạn có thể đọc thêm -tại đây-), bây giờ tôi sẽ viết về sự tác động của cảm xúc đến nhịp đập của tim. Và phần này, là quan điểm cá nhân của tôi, không dựa trên một nghiên cứu nào.

Tôi sẽ nói về yếu tố cảm xúc của con người ảnh hưởng đến nhịp tim của chúng ta như thế nào, tại sao tim chúng ta đập nhanh khi được nắm tay, ôm hôn người chúng ta yêu, tại sao tim chúng ta đập nhanh khi chúng ta lo lắng….

Chắc hẳn các bạn ít nhất một lần từng phải loạn nhịp khi ngồi gần, nắm tay hay ôm hôn người mình yêu, tại sao lại như vậy!? Bởi lẽ, các bạn mong chờ được điều đó, và khi điều ấy xảy ra não bộ phản ứng lại nhưng không phải theo cơ chế phản vệ đa tầng, mà não bộ của chúng ta hiểu đó là sự vui sướng khi sự mong chờ được đáp ứng. Để có được cảm giác phấn khích, vui sướng và nhiều cảm giác đan xen với nhau là sự phối hợp của một các hormone khác nhau như dopamine, serotonin, estrogen, và testosterone (chúng còn được gọi bằng một cái tên kiêu kỳ khác là “Hormone hạnh phúc”). Tôi tin rằng, khi chúng ta trúng số thì cơ chế tương tự cũng được thực hiện (bởi chẳng ai chê tiền cả).

Tuy nhiên, có horemone mà khi trúng số có lẽ chúng ta chẳng sinh ra được đó là testosterone và oestrogen, đây là hai loại hóc môn gây ham muốn tình dục. Các hormone này thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu thỏa mãn về thể xác. Suốt thời gian ham muốn, hai phần quan trọng của não trở nên hoạt động tích cực, đó là: vùng não dưới đồi (hypothalamus) (điều khiển các nhu cầu cơ bản như đói, khát) và hạch hạnh nhân (amygdale) (trung tâm kích thích các cảm giác). Việc sản xuất testosterone, dẫn đến sự hấp dẫn về giới tính.

Tôi không phải là nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nghệ sĩ…. nên tôi không thần thánh hóa tình yêu lên mức vĩ đại, cao cả, là một cái gì đó thiêng liêng. Đối với tôi, bản chất của tình yêu là xuất phát từ như cầu tình dục nhưng tạo hóa đã cho chúng ta khả năng tư tuy và thông qua quá trình phát triển của xã hội, chúng ta tạo ra các quy chuẩn để hoạt động tình dục đi vào nề nếp, nói khác đi việc sinh sản không kiểm soát của con người sẽ dẫn đến sự bùng nổ dân số và tàn phá tự nhiên, tạo nên sự phát triển không bền vững, chính vì vậy con người đã xây dựng nên các quy chuẩn để kiểm soát việc sinh sản. Và dưới góc nhìn của nghệ sĩ, tình yêu đã được nâng lên một tầng cao mới, và có khi được nhiều người hiểu sai dẫn đến có quan điểm cho rằng tình yêu thực sự phải thoát ly khởi sự ham muốn về mặc thể xác và các yếu tố khác, đó là sự đồng điệu của hai tâm hồn…. Nếu thế thì tôi cho rằng chúng ta chỉ nên làm bạn với nhau.

Bạn đã từng đứng trên sân khấu, bạn đã từng phải thuyết trình trước đám đông? Và bạn chắc hẳn đã trải qua cảm giác hồi hộp, lo lắng? Nhưng khác với cảm giác hồi hộp, tim tập nhanh khi được nắm tay, ôm hôn người yêu, trong trường hợp này sự hồi hộp, lo lắng xảy ra khi chúng ta nghĩ về hậu quả của việc chúng ta làm. Nghĩa là chúng ta không lo lắng về việc chúng ta phải lên sân khấu, biểu diễn trước khán giả mà chúng ta đang lo lắng nếu như biểu diễn không thành công thì chúng ta sẽ bị một điều gì đó không tốt như mất mặt, bị đánh giá thấp…. trong trường hợp này các hormone gây căng thẳng gia tăng đột biến khiến trung khu gia tốc, thông qua thần kinh giao cảm làm tim đập nhanh.

Bài viết có sử dụng tư liệu của website Tâm lý học tội phạm và Khoahoc.tv (đây là hai nguồn không chính thông, vì vậy các bạn không nên tin mù quáng vào các thông tin mà tôi đưa vào bài viết, tốt nhất hãy tập luyện cho mình có một tư duy độc lập khi tiếp nhận thông tin).

Tình yêu ám ảnh - Tình yêu và lòng thù hận

Đây là một bài viết trên website Tâm lý học tội phạm, một bài viết giới thiệu sách, cũng như lần trước, nội dung bài viết chỉ nêu những lý luận chung.

Tôi nghĩ bài viết này sẽ cho các bạn biết ít nhiều về trạng thái tâm lý của hung thủ gây ra vụ án mạng kinh hoàng ở Bình Phước. 


Các thuật ngữ :
Obsessive lover: Người có tình yêu ám ảnh.
Target: Là đối tượng, là người mà Obsessive lover theo đuổi.

Tình yêu ám ảnh là gì?

Khi nó có 4 điều kiện sau:

1. Sự đau đớn, ám ảnh với người yêu

2. Họ có một mong ước không thể thỏa mãn được là muốn sở hữu hay được sở hữu bởi Target.

3. Đối tượng từ chối họ và không sẵn sàng về mặt thể lý hay cảm xúc dành cho họ.

4. Sự từ chối của đối tượng khiến Obsessive lover có những hành động mang tính hủy hoại bản thân và đối tượng.

Thực tế, những ám ảnh về tình yêu thường ít khi liên quan đến tình yêu, mà nó liên quan đến sự mong ước, khát khao, ham muốn. Khát khao là ước muốn những gì mà bạn không có. Ngay cả khi Obsessive lover đang ở trong một mối quan hệ, họ cũng cảm thấy không có đủ điều mà họ muốn. Họ muốn nhiều hơn nữa tình yêu, sự chú ý, sự cam kết, sự đảm bảo. Và chính những mong muốn không thể thỏa mãn này của Obsessive lover đã đẩy đối tượng rời xa họ. Obsessive lover cảm thấy như bị kiểm soát bởi chính những nhu cầu và khao khát của họ.

Một tình yêu lành mạnh thường đem đến sự tin tưởng, quan tâm chắm sóc và tôn trọng lẫn nhau. Nhưng Obsessive lover lại bị kiểm soát bởi những nỗi sợ hãi, bởi khát khao sở hữu và bởi sự ghen tuông. Cuối cùng, tình yêu ám ảnh không bao giờ đem lại sự thỏa mãn, sự nuôi dưỡng và hiếm khi nào họ cảm thấy ổn.

Liệu bạn có phải là một Obsessive lover?

Bạn hãy trả lời những câu hỏi sau:

1. Bạn không ngừng mong mỏi một người nào đó mà họ không sẵn sàng về mặt cảm xúc hay thể lý đối với bạn?

3. Bạn có tin rằng nếu mình mong muốn người này đến một mức nào đó thì anh ấy hay cô ấy sẽ yêu bạn?

4. Bạn có tin rằng nếu mình theo đuổi người này đủ kiên trì và với phương pháp đúng thì anh /cô ấy sẽ chấp nhận bạn?

5. Khi bạn bị từ chối, điều đó có thúc đẩy bạn chỉ khát khao người này nhiều hơn không?

6. Nếu bạn liên tục bị từ chối, thì sự khat khao người ấy của bạn có biến thành sự giận dữ, hận thù không?

7. Bạn có cảm thấy như mình là một nạn nhân khi người ấy không cho bạn thứ mà bạn muốn?

8. Nỗi ám ảnh về người ấy mạnh mẽ đến nỗi nó tác động đến thói quen ăn uống, đi ngủ và khả năng làm việc của bạn?

9. Bạn có tin rằng đây là người duy nhất khiến cuộc đời bạn trở nên có ý nghĩa?

10. Bạn có phát hiện thấy mình liên tục nhớ về người ấy, thường đợi rất lâu mong chờ người ấy sẽ gọi điện cho bạn?

11. Bạn có hay xuất hiện bất ngờ trước nhà hay cơ quan của người ấy mà không báo trước?

12. Bạn có thường xuyên kiểm tra xem người ấy hiện đã có người yêu chưa?


Nếu bạn trả lời “ có” từ 3 câu hoặc nhiều hơn, thì bạn là một Obsessive lover.

Bạn có phải là mục tiêu, đối tượng của một Obsessive lover?

1. Bạn có cảm thấy nghẹt thở bởi những hành động của họ?

2. Họ liên tục thuyết phục bạn rằng bạn không hiểu những cảm xúc hay khao khát của chính bạn, rằng bạn thực sự yêu họ?

3. Họ từ chối thực tế rằng mối quan hệ này đã kết thúc và tiếp tục theo đuổi bạn mặc dù bạn đã phản đối họ?

4. Bạn có nhận được những cuộc điện thoại, tin nhắn, món quà không mong đợi từ họ?

5. Liệu sự theo đuổi của họ có khiến bạn cảm thấy bất an về cuộc sống của mình, nó ảnh hưởng đến cơ thể và cảm xúc của bạn hay khả năng tập trung vào công việc của bạn?

6. Khi bạn từ chối họ, điều đó có khiến họ càng khao khát bạn mãnh liệt hơn không?

7. Khi bạn từ chối họ, điều đó có khiến họ nổi giận?

8. Bạn có bị họ theo dõi?

9. Bạn có sợ rời khỏi nhà mình vì có thể họ đang đợi bạn ở ngoài?

10. Bạn có cảm thấy như mình là một con tin của cuộc theo đuổi của họ?

11. Bạn có sợ họ sẽ gây tổn thương cho bạn hoặc họ tự làm mình bị tổn thương vì bạn?

12. Họ có đe dọa sẽ dùng bạo lực với bạn và nó trở thành thật không?

Nếu câu trả lời của bạn là “ có” ngay cả một câu trong số 12 câu trên, thì nhiều khả năng bạn là mục tiêu của Obsessive lover.


Những đặc điểm của Obsessive lover

1. Họ cho rằng người ấy là người duy nhất, người ấy là một phép màu nhiệm , người ấy có thể thỏa mãn, đáp ứng mọi nhu cầu của họ. Họ tin rằng người ấy sẽ giải quyết được mọi rắc rối trong cuộc đời họ, sẽ cho họ sự đam mê mà họ khao khát. Người ấy sẽ khiến họ cảm thấy mình được cần đến, được yêu thương hơn trước đây. Với tất cả những quyền năng này, Người ấy trở thành một điều gì đó còn hơn cả một người yêu- anh ấy/ cô ấy trở thành một nhu yếu của cuộc sống của họ.

Người ấy không cần thiết phải đặc biệt quyến rũ, thông minh hay thành công trong sự nghiệp hay họ có những phẩm chất nào đó đáng mơ ước.

Những ảo tưởng và kỳ vọng của Obsessive lover về người ấy ít khi liên quan nhiều đến con người thực sự của người ấy.

2. Trong một mối quan hệ lành mạnh, nếu hai người yêu nhau và phát hiện được những điều không tốt đẹp mà họ không thích ở người yêu, thì họ có thể lựa chọn kết thúc mối quan hệ. Nhưng từ bỏ người yêu không phải là lựa chọn của Obsessive lover. Bất kể thực tế như thế nào, họ tự tạo ra cho mình về một mối quan hệ họ muốn trong tưởng tượng. Họ tạo ra những kỳ vọng, những mơ ước hơn là dựa vào thực tế….

3. Bị từ chối là ác mộng của Obsessive lover. Sự khác biệt giữa một mối quan hệ lành mạnh và một tình yêu ám ảnh trở nên rõ ràng hơn khi xem xét đến vấn đề bị từ chối. Nếu những người yêu nhau (lành mạnh) bị từ chối, họ có thể tiếc thương cho mối quan hệ của mình một thời gian rồi tiếp tục cuộc sống mới. Nhưng đối với Obsessive lover, khi bị từ chối, họ sẽ trở nên sợ hãi, bất an, đau khổ.

Không ai thích bị từ chối cả. Điều đó gây tổn thương cho mọi người. Nhưng nó lại xảy ra với tất cả mọi người vào một thời điểm nào đó. Việc bị từ chối là một nguy cơ mà tất cả chúng ta đều phải gánh chịu khi chúng ta bắt đầu một mối quan hệ mới. Phần đông chúng ta cảm thấy bất an về khả năng người yêu có thể rời bỏ mình. Đó là nỗi lo lắng bị từ chối. Khi mối quan hệ tiến triển thì những người yêu nhau càng tin tưởng hơn vào bạn tình, nỗi lo lắng này có xu hướng biến mất. Nhưng điều không may là phần lớn những Obsessive lover khi ở trong một mối quan hệ, họ luôn luôn, liên tục sợ hãi người yêu sẽ bỏ rơi mình.

Cơ chế phòng vệ của Obsessive lover khi bị từ chối: họ sẽ phủ nhận thực tế, tin rằng đó không phải sự thật bằng hai cách: Hợp lý hóa và làm giảm nhẹ mức độ quan trọng của sự việc.

Hợp lý hóa là một hình thức phổ biến nhất của việc chối bỏ thực tế. Nó là một quá trình tự thuyết phục bản thân. Khi đương đầu với việc bị từ chối, Obsessive lover sẽ hợp lý hóa nó một cách cực kỳ sáng tạo, mục đích là để biện minh cho hành động của người yêu. Sau đây là một vài ví dụ về hợp lý hóa:

“ Tôi biết là anh ấy đang nhìn ngắm những người phụ nữ khác, nhưng điều đó chẳng có ý nghĩa nào với anh ấy cả. Tôi mới là người đàn bà duy nhất mà anh ấy thực sự quan tâm”.

“ Tôi biết là anh ấy có những hành động không thực sự yêu thương tôi, nhưng anh ấy sẽ yêu tôi hơn nếu tôi làm cho anh ấy dừng uống rượu.”

“Tôi đã không nghe tin tức gì từ anh ấy suốt 3 tuần nay. Có thể anh ấy phải làm việc vất vả trong thời gian ấy nên không liên lạc với tôi”.

“ Cô ấy đang cặp kè với anh chàng khác, nhưng tôi biết là cô ấy chỉ làm như vậy để khiến tôi ghen tuông “.

Obsessive lover tiếp tục hợp lý hóa cho những hành động (thể hiện rõ ràng sự từ chối của người ấy) thay vì chấp nhận thực tế là mối quan hệ này đã kết thúc. Sau đây là trường hợp của Nora:

“ Có lẽ anh ấy sẽ gọi điện thoại cho tôi vào một ngày nào đấy và nói “ Anh đang chờ xem em sẽ làm gì để anh quay lại với em”. Tất cả chỉ là một trò chơi thôi. Anh ấy đang thử tôi và một ngày nào đó tôi sẽ nhận được điện thoại của anh ấy và anh sẽ nói “Ok, chúng ta hãy kết hôn nhé”. Bởi vì tôi biết đó chính là những gì anh ấy nghĩ. Tôi hiểu anh ấy còn nhiều hơn anh ấy hiểu chính bản thân anh.

Anh ấy thực sự yêu tôi, chỉ là anh ấy không nhận ra điều đó thôi.

Obsessive lover thường tin rằng họ hiểu người ấy còn nhiều hơn là người ấy thực sự hiểu về cảm xúc của mình. Họ tin rằng nếu họ có thể chứng minh về tình yêu mãnh liệt của mình thì người ấy của họ sẽ thức tỉnh những cảm xúc thật đền đáp lại tình yêu của họ.Bằng cách sử dụng cơ chế phòng vệ hợp lý hóa, Obsessive lover có thể là giảm bớt mức độ từ chối của hành động của người ấy trong thời gian ngắn hạn.

Cơ chế phòng vệ thu giảm mức độ thực của thực tế bằng cách tập trung có chọn lọc.

Nếu bạn nói với Obsessive lover là: “Tất cả đã kết thúc. Tôi không muốn nhìn thấy bạn nữa, và tôi cũng không muốn bạn tìm cách liên lạc với tôi nữa”, thì Obsessive lovers sẽ chỉ nghe nó thành “ Bạn là một người kinh khủng “. Bằng cách bỏ đi những nội dung rõ ràng của thông điệp, Obsessive lover chỉ tìm cách làm giảm đi mức độ tiêu cực của thông điệp. Đây là một phương sách mà Obsessive lover dùng để đối phó với thông điệp từ chối quá rõ ràng từ người yêu.

Họ luôn nỗ lực tìm kiếm một tia hy vọng, những bằng chứng chứng tỏ rằng người ấy vẫn quan tâm đến họ. Họ là bậc thầy của việc chối bỏ thực tế.

Obsessive lover đã đầu từ quá mức thời gian và nỗ lực vào mối quan hệ này, nên khi họ trải nghiệm sự bị từ chối, họ thực sự tin rằng mình sẽ không bao giờ có thể yêu lại nữa, họ sẽ không bao giờ có thể hạnh phúc lại nữa. Bởi lý do này mà họ từ chối từ bỏ người ấy. Họ không thể từ bỏ.

Việc bị từ chối sẽ khơi dậy những cảm xúc đau đớn cho mọi người – đó là nỗi đau của cảm giác không được cần đến, nỗi đau của cảm giác bị sỉ nhục, nỗi đau của cảm giác mình khiếm khuyết không đủ đầy, nỗi đau của việc sống lại quá khứ bị từ chối trước đây. Nỗi đau là một dấu chỉ cho thấy có điều gì đó cần sửa chữa. Cách đáp ứng tự nhiên nhất với nỗi đau , đó là làm một cái gì đấy. Đối với những người lành mạnh, khi bị từ chối thì họ sẽ có những đáp ứng mang tính xây dựng trước nỗi đau. Mặc dù quá trình này không phải dễ dàng, họ sẽ nhận thức được về nỗi đau của họ, nhận thức được rằng họ đang ở trong một tình huống không có chiến thắng, và tìm cách thức để chia tay với người yêu. Nhưng đối với Obsessive lover, họ không thể tách rời với người yêu. Họ tìm cách trốn khỏi nỗi đau mà họ đang trải qua bằng cách trở nên ám ảnh với những gì mà họ đang làm. Họ chuyển nỗi đau thuộc về cảm xúc sang những hành động mang tính tiêu cực, như tự hành hạ, trừng phạt bản thân.Những hành động trừng phạt bản thân mà Obsessive lover thường dùng là : uống rượu quá mức, ăn quá nhiều, dùng chất gây nghiện, đánh bạc, trở nên nối nóng hoặc không tập trung trong công việc, ngủ quá nhiều hoặc không ngủ đủ giấc, bỏ bê gia đình và bạn bè, và trong một số trường hợp cực đoan có thể dẫn đến tự tử.

Đau khổ: Sự kết nối tuyệt vọng

Một số Obsessive lover có vấn đề trong việc bộc lộ sự giận dữ. Điều này đúng đối với cả hai giới và đặc biệt đúng đối với phụ nữ. Phụ nữ được giáo dục rằng thể hiện sự tức giận trực tiếp là không quyến rũ.

Sự đau khổ có vai trò đặc biệt trong tình yêu ám ảnh. Đối với Obsessive lover, sự đau khổ mang lại cho họ sự kết nối mong manh với một mối quan hệ đã chết hoặc đang chết. Sự đau khổ cho phép Obsessive lover lưu giữ hình ảnh người ấy một cách sinh động trong cuộc sống hiện tại của họ. Một mối quan hệ có thể đã kết thúc về mặt thể lý, nhưng cảm xúc đau khổ có thể ngăn chặn mối quan hệ không kết thúc về mặt cảm xúc. Tuy nhiên, khi duy trì sự kết nối kiểu này, Obsessive lover không thu được điều gì ngoại trừ nỗi đau và trì hoãn khả năng có cuộc sống mới .Khi mới bắt đầu mối quan hệ, Obsessive lover được nuôi dưỡng bởi sức mạnh của sự đam mê của họ. Khi sự từ chối của đối tượng làm tiêu bớt sự đam mê, thì phải có một cái gì đó để lấp đầy lỗ hổng về cảm xúc. Đau khổ là một trong những trạng thái có thể tạo ra cảm xúc đủ mạnh để làm điều này.

Ám ảnh với việc theo đuổi đối tượng

Sự từ chối của đối tượng khiến Obsessive lover cảm thấy cuộc sống của họ bị cuốn ra khỏi vòng kiểm soát. Họ tìm cách ngăn chặn mối quan hệ không phải kết thúc. Và nếu mối quan hệ đã chết thì họ sẽ làm nó hồi sinh. Mục tiêu của việc theo đuổi đối tượng là để lấy lại mối quan tâm của người ấy. Họ chỉ có duy nhất một lựa chọn : đó là theo đuổi… và theo đuổi… và theo đuổi.Một số hành động theo đuổi là: gửi quà, hoa, thư tay cho đối tượng; tìm cớ để gặp mặt đối tượng; liên tục gọi điện thoại cho đối tượng; liên tục đên nhà riêng hoặc cơ quan đối tượng; Rình rập đối tượng; Đe dọa sẽ làm hại bản thân hoặc đối tượng.

Obsessive lover tiến hành những hành động theo đuổi đó để khẳng định lại quyền lực, sức mạnh của họ trong mối quan hệ này (khi tình yêu ám ảnh khiến họ cảm thấy bất lực khi mất đi người yêu).

Đoạn kết của cuộc theo đuổi gần như không bao giờ đem lại kết quả như họ hy vọng. Họ không thể ép buộc đối tượng yêu họ. Việc theo đuổi thất bại tạo nên 1 chu kỳ tự tồn tại khiến Obsessive lover càng cảm thấy tuyệt vọng và mất giá trị bản thân; khi họ càng xa lánh đối tượng thì họ càng cảm thấy tồi tệ, và cảm xúc đó lại càng thúc đẩy họ cố gắng và tránh né nỗi đau bằng cách tiếp tục theo đuối. Đây là cách thức mà sự theo đuổi ám ảnh tự nuôi dưỡng chính nó.

Từ theo đuổi chuyển sang trả thù

Tất cả Obsessive lover cuối cùng đều đi đến điểm bùng nổ- đó là thời điểm mà sự thất vọng của họ trước những thất bại khi theo đuổi đối tượng đã vượt quá sức chịu đựng. Những ảo tưởng lạc quan ban đầu của họ về việc làm sống lại mối quan hệ bị thay thế bằng niềm tin rằng chính đối tượng đã cố tình hủy hoại cuộc đời họ.Họ trở nên điên tiết vì đối tượng đã phản bội họ, đã tước đi tình yêu mà họ khao khát.

Khi tình yêu và hận thù đi liền với nhau

Tình yêu và hận thù dường như có vẻ là những cảm xúc đối lập nhau, nhưng trong tình yêu ám ảnh thì hai cảm xúc đó cùng tồn tại. Khi họ bị ám ảnh bởi hận thù và cảm xúc đó mạnh mẽ đến nỗi họ không thể chối bỏ được thì hầu hết Obsessive lover đều tưởng tượng đến việc trả thù. Không có gì sai trái với việc tưởng tượng trả thù. Tất cả mọi người đều có những tưởng tượng như vậy vào một thời điểm nào đó trong đời. Nhưng đối với Obsessive lover thì những tưởng tượng này lặp đi lặp lại trong đầu họ và nó ảnh hưởng đến trạng thái bình an nội tâm.

Cơn thịnh nộ ẩn dưới những tưởng tượng báo thù khiến con người ta cảm thấy mình mạnh mẽ hơn, tràn đầy năng lượng hơn. Còn trầm cảm do bị đối tượng từ chối thì ngược lại. Trầm cảm khiến con người cảm thấy mình bất lực, kiệt sức và tuyệt vọng. Chính bởi điều này mà con người hiếm khi trải nghiệm sự thịnh nộ và trầm cảm vào cùng một thời điểm, dù 2 cảm xúc này cùng tồn tại trong cùng một người. Thịnh nộ và trầm cảm là 2 cực đối lập của cùng một lực , đó là sự tức giận. Cơn thịnh nộ thường là sự tức giận hướng ra bên ngoài vào một người nào đó , trong khi ngược lại thì trầm cảm thường là sự tức giận hướng vào bên trong bản thân chính mình.Trong trường hợp của Obsessive lover, bằng việc hướng sự giận dữ vào đối tượng, nó có thể giúp họ giải tỏa cảm xúc bất lực của chính mình . Nhưng sự giải tỏa cảm xúc này chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn.

Obsessive lover sẽ dùng ba hình thức để báo thù, đó là:

1. Bạo lực về cảm xúc: khiến đối tượng cảm thấy lo sợ, bất lực, mệt mỏi và giận dữ. Nhiều nạn nhân của việc bạo lực về cảm xúc thường mệt mỏi, thất vọng bởi vì luật pháp không bảo vệ được họ. Những nạn nhân của bạo lực về thân thể thì có thể gọi cảnh sát. Nhưng nạn nhân của bạo lực về cảm xúc thì không.

2. Bạo lực về tài sản: trả thù đối tượng bằng cách hủy hoại những tài sản như nhà cửa, xe cộ, đồ đạc, quần áo, trang sức

3. Bạo lực về thân thể

Những Obsessive lover tìm cách trả thù đều cần sự trợ giúp tâm lý. Bạn cần tìm sự trợ giúp trước khi bạn gây tổn thương cho người khác. Nếu bạn có ý định tấn công hoặc làm hại đối tượng về thân thể thì bạn bắt buộc phải được giúp đỡ về tâm lý. Vì những động lực thúc đẩy bạn có những hành động làm hại người khác đã nằm ngoài khả năng kiểm soát của ý thức.

Vai trò Vị cứu tinh của Obsessive lover:

Một số Obsessive lover thích đóng vai vị cứu tinh, người giúp đỡ. Họ bị thu hút như nam châm vào những đối tượng có những vấn đề rắc rối trong cuộc sống cá nhân. Đối tượng của Obsessive lover có thể là những người mới bị mất việc làm, người nghiện rượu, nghiện ma túy, có vấn đề về tình dục, hoặc là kẻ bạo hành thích đánh đạp người khác, hoặc là tội phạm. Nhưng cho dù vấn đề của đối tượng là gì , thì Obsessive lover là những người bị thu hút bởi người ấy vì họ tin rằng có có sức mạnh để sửa chữa vấn đề của đối tượng.Họ tin rằng nếu họ yêu thương đối tượng đủ nhiều, cho đủ nhiều, làm đủ nhiều thì họ có thể cứu rỗi cuộc đời của đối tượng, giải thoát đối tượng và có được một mối quan hệ bình dị mà họ hằng mong muốn.

Nhu cầu muốn được người khác cần đến mình của vị cứu tinh Obsessive lover:

Vai trò vị cứu tinh xuất phát từ khao khát của chúng ta là được cho đi, được mọi người cần đến , được mọi người nhìn nhận mình là người tốt, nhân ái. Điều này đặc biệt đúng đối với phụ nữ, có xu hướng trở thành người chăm sóc người khác do bản năng tự nhiên của phụ nữ và do bởi ảnh hưởng của xá hội. Vị cứu tinh sẽ cảm thấy cao quý nếu họ gánh được phần nào vấn đề rắc rối của người khác. Nếu họ có thể sửa chữa được vấn đề của người khác, thì họ sẽ cảm thấy mình được cần đến. Nếu thói quen sửa chữa vấn đề của người khác trở thành thói quen và đối tượng của họ là người phụ thuộc vào họ, họ sẽ cảm thấy mình không thể sống thiếu đối tượng được.

Bạn hãy tự trả lời những câu hỏi sau để xem mình có phải đang đóng vai vị cứu tinh không.

Bạn nghĩ là bạn có thể thay đổi được người yêu, ngay cả khi:

1. Bạn liên tục phát hiện thấy mình nói dối hoặc bao che cho vấn đề của người yêu do hậu quả của những hành động của người yêu?

2. Bạn liên tục bảo lãnh người yêu khỏi những khó khăn tài chính?

3. Người yêu của bạn liên tục vay mượn tiền từ bạn và không hoàn trả.

4. Người yêu của bạn liên tục nói dối với bạn về hoàn cảnh gia đình, lịch sử nghề nghiệp và tình trạng hôn nhân?

5. Người yêu của bạn liên tục lừa dối bạn.

6. Người yêu của bạn lạm dụng rượu và ma túy.

7. Người yêu bạn nghiện cờ bạc.

8. Người yêu bạn bạo hành bạn về ngôn ngữ, thể chất, cảm xúc.

9. Người yêu bạn có rắc rối liên quan đến pháp luật.

Bạn thường xuyên ám ảnh bởi việc:

1. Cố gắng giúp người yêu thoát khỏi vấn đề uống rượu, cờ bạc.

2. Cố gắng tìm việc giúp người yêu.

3. Cố gắng giúp đỡ người yêu vượt qua khó khăn về tình dục.

4. Cảm thấy có lỗi khi mình chưa nỗ lực đủ nhiều để giúp người yêu.

5. Cố gắng giúp người yêu thấy tương lai tươi sáng thế nào nếu anh, cô ấy có thể thay đổi được những hành vi không lành mạnh.

Ngay cả khi bạn chỉ trả lời “ có” ở một câu trong danh sách những câu trên, thì bạn có khả năng là đang đóng vai vị cứu tinh. Bạn thấy mình phải chịu trách nhiệm để giải quyết những vấn đề của người yêu của bạn- về tài chính, cảm xúc, nghiện ngập. Bạn sẽ tiêu tốn nhiều năng lượng và thời gian và đến một lúc nào đó sẽ cảm thấy kiệt sức, thất vọng và cảm giác bị lợi dụng.

Đối tượng của Obsessive lover sẽ thấy rất khó khăn để kết thúc mối quan hệ với Obsessive lover

Phải cần có 2 người thì mới tạo thành một mối quan hệ, và cũng cần phải có 2 người để kết thúc một mối quan hệ. Đó là lý do tại sao không bao giờ dễ dàng để kết thúc mối quan hệ với Obsessive lover. Đặc biệt là khi đối tượng bị buộc chặt vào mối quan hệ này bởi chính cảm xúc của họ- cảm thấy tội lội, lòng từ bi hay những khao khát tình dục.

Không ai thích cái cảm giác mình là nguyên nhân gây đau khổ cho người khác. Nhưng trong một mối quan hệ đầy tính phức tạp và rối rắm như mê cung, việc những người yêu nhau gây tổn thương nhau là điều không thể tránh khỏi. Ngay cả khi chúng ta không hề có ác ý , ngay cả khi chúng ta cam kết sẽ không có những hành động ác ý, thì chúng ta vẫn dễ cảm thấy mình độc ác khi chúng ta gây tổn thương cho người yêu khi kết thúc mối quan hệ với họ. Trong một mối quan hệ với Obsessive lover thì những cảm giác ấy càng được phóng đại lên bởi nỗi đau khổ của Obsessive lover.

Và đối tượng của Obsessive lover sẽ cảm thấy mình phải chịu trách nhiệm cho hạnh phúc cũng như những đau khổ của Obsessive lover.

Những thông điệp mang tính nước đôi.

Khi đối tượng của Obsessive lover trì hoãn việc đưa ra quyết định kết thúc mối quan hệ thì họ trở nên không trung thực, nói và làm những việc trái ngược với cảm xúc thật của họ.Họ đưa ra những thông điệp không rõ ràng, điều đó chỉ làm thổi bùng lên ngọn lửa đam mê trong hành động của Obsessive lover.

Nhiều người nhầm lẫn rằng chúng ta truyền thông cảm xúc của mình với người khác chủ yếu bằng cách nói về chúng. Nhưng nghiên cứu tâm lý học chỉ ra rằng khoảng 75% nội dung của truyền thông là ở phi ngôn ngữ. Ngôn ngữ cơ thể, hành động, và thái độ bộc lộ nhiều hơn là ngôn ngữ bằng lời. Khi chúng ta đang có xung đột, mâu thuẫn, hoặc khi chúng ta đang cố gắng che dấu cảm xúc thực của mình, chúng ta sẽ thường nói một đằng và làm một nẻo, tạo ra thông điệp nước đôi.

Ví dụ: khi Elliot quyết định chia tay với Lisa, anh ta vẫn tiếp tục quan hệ tình dục với cô. Anh ta vẫn tiếp tục gặp mặt Lisa, nhưng rôi sau đó anh ta lại không muốn gặp cô nữa. Điều đó chỉ càng làm cho Lisa thấy thất vọng, giận dữ. Elliot đã đưa cho Lisa một thông điệp nước đôi. Anh ta một mặt nói rằng không muốn gặp cô nữa, nhưng thông điệp phi ngôn ngữ của anh ta – quan hệ tình dục với cô – thì lại đối lập.

Khi bạn là đối tượng của Obsessive lover và bạn quyết định kết thúc quan hệ với họ, thì bạn cần nhận ra rằng những thông điệp nước đôi của bạn chỉ càng làm cho tình hình trở nên phức tạp hơn. Cuối cùng , bạn chỉ kéo dài thêm bất hạnh cho mình và trì hoãn những việc không thể thay đổi.

Cũng là điều tự nhiên khi đối tượng của Obsessive lover lại rơi vào khuôn mẫu đưa ra thông điệp ước đôi, nhưng họ cũng phải trả giá về cảm xúc khi họ làm như vậy. Khi họ nói một đằng và làm một nẻo, thì họ hiếm khi cảm thấy ổn về mình. Thay vào đó, họ cảm thấy mình yếu đuối, lo lắng và trên tất cả, là cảm giác tội lỗi vì lừa dối, càng khiến cho họ gặp khó khăn thêm khi kết thúc mối quan hệ với Obsessive lover.

Bạn cần phải đưa ra những thông điệp rõ ràng, trung thực, nghiêm túc.

Sau đây là một số ví dụ về loại thông điệp này. Mặc dù nó rất khó, nhưng ở đây không có chỗ cho sự mơ hồ, hay tinh tế khi truyền thông với Obsessive lover- người không muốn nghe sự thực.

– Mọi thứ kết thúc rồi. Không có thỏa hiệp nào cả. Tôi sẽ không thảo luận vẫn đề này thêm nữa.

– Tôi sẽ không nghe điện thoại bạn gọi bắt đầu từ bây giờ, và nếu bạn gọi thì tôi sẽ cắt máy mà không nói với bạn.

– Tôi muốn bạn rời bỏ tôi ngay bây giờ. Nếu bạn không làm thì tôi sẽ bỏ bạn lại.

– Đừng gọi điện thoại, đừng gửi tin nhắn, đừng liên lạc với tôi.

Gốc rễ của tình yêu ám ảnh

Sự kết nối hạnh phúc

Chúng ta khi còn là những đứa bé sơ sinh là những tồn tại cảm xúc. Khi những nhu cầu cơ bản của chúng ta không được đáp ứng- khi chúng ta đói, hay mệt mỏi, hoặc cảm thấy lạnh lẽo, hoặc cảm thấy không thoải mái, hoặc đau đớn- chúng ta trở nên đau khổ và tức giận. Nhưng khi đứa bé được ôm ấp trong vòng tay của mẹ và cơn đói khát của nó được thỏa mãn bởi dòng sữa ấm áp , đứa bé sẽ trải nghiệm được một niềm hạnh phúc thuần khiết, một trạng thái kết nối hoàn hảo với người mẹ, một trạng thái hoàn toàn an bình, ấm áp và đủ đầy. Cái thế giới của đứa bé chỉ đơn giản là thế giới nội tâm của nhu cầu và sự thỏa mãn, của ái dục và hạnh phúc. Chúng ta không trải nghiệm điều gì ở thế giới bên ngoài chúng ta. Người mẹ là một phần của đứa bé. Đứa bé và người mẹ là một.

Bất kể tuổi tác và giới tính, thì luôn luôn tồn tại một phần vô thức trong chúng ta luôn khao khát những cảm xúc êm ái đó, được trở về với trạng thái an toàn , trở thành một với người mẹ. Nhưng tất nhiên là chúng ta không bao giờ có thể trở lại với sự kết nối hạnh phúc ấy, nhưng những cảm xúc đó đã ăn sâu trong chúng ta.

Mất kết nối

Khi nhận thức của chúng ta phát triển và chúng ta bắt đầu cảm nhận rằng chúng ta là người riêng biệt với mẹ, chúng ta bắt đầu cảm nhận rằng những nguồn thỏa mãn nhu cầu của chúng ta nằm ở thế giới bên ngoài, nó không phải là một phần của chúng ta.Cái cảm giác kết nối hoàn hảo với người mẹ (trở thành một với mẹ) bị tan vỡ. Lần đầu tiên trong đời, chúng ta trải nghiệm sự sợ hãi rằng mẹ của mình không xuất hiện khi chúng ta cần bà- chúng ta cảm thấy rất sợ hãi khi bị bỏ rơi.

Đây là bước đầu tiên của quá trình tách rời khỏi mẹ, và nó cũng là bước đau đớn nhất đối với tất cả chúng ta. Bạn không thể cắt đứt mối kết nối mẹ-con này như cái cách bác sỹ cắt cuống rốn. Quá trình này không diễn ra dễ dàng.

Tách rời khỏi mẹ là một quá trình hỗn loạn, stress, là một trận chiến giữa khao khát tự nhiên của chúng ta được trở thành con người riêng biệt với nỗi sợ hãi mất đi sự an toàn của mối gắn kết mẹ con. Quá trình này tiếp tục diễn ra trong suốt thời thơ ấu cho đến tuổi thanh niên.

Chỉ khi nào mà bố mẹ của chúng ta thỏa mãn những nhu cầu của ta với thái độ tôn trọng, yêu thương, ủng hộ và bảo vệ thì chúng ta mới có thể phát triển niềm tin vào bản thân mình và mọi người, và quá trình chia tách khỏi mẹ sẽ diễn ra thuận lợi.

Khi quá trình tách rời mẹ bị trật bánh

Cha mẹ tốt sẽ nuôi dạy đứa con trở thành người tự tin và độc lập. Nhưng nếu đứa bé được sinh ra và nuôi dạy trong một gia đình không lành mạnh thì quá trình tách rời khỏi mẹ sẽ diễn ra khó khăn. Ví dụ như: sự ra đời của một người em, sự vắng mặt của cha mẹ vì lý do công việc, cái chết của bố hoặc mẹ, hoặc trẻ bị bố mẹ làm tổn thương về tinh thần, thân thể, không quan tâm đến những nhu cầu tình cảm – những tình huống như vậy trong gia đình có thể phá vỡ quá trình từ phụ thuộc sang tự lập của đứa trẻ, đứa trẻ sẽ cảm thấy mình bị bỏ rơi. Và khi đứa trẻ cảm thấy bị bỏ rơi, nó sẽ mất đi lòng dũng cảm để có thể chia tách cảm xúc khỏi cha mẹ.

Khi đứa bé chịu đựng sự thất bại trong quá trình chia tách khỏi mẹ, vì bất cứ lý do gì, thì khi lớn lên, chúng ta có thể tỏ ra độc lập ở bên ngoài, nhưng bên trong chúng ta lại cảm thấy sợ hãi và chúng ta tuyệt vọng khi cố gắng tìm cách kết nối lại những cảm xúc cội nguồn (cảm thấy đủ đầy và an toàn) mà hiện tại chúng ta không đạt được. Quá trình này được gọi là The connection compulsion (sự kết nối mang tính cưỡng bức). Để hiểu hơn về sự cưỡng bức kết nối này, ta hãy tưởng tượng về một đứa bé rời khỏi ngôi nhà nhỏ hạnh phúc của cô bé ấy ở trong rừng để nhìn ra thế giới. Dọc đường đi, cô bé ấy bắt gặp một sinh vật lạ mà cô ấy chưa bao giờ nhìn thấy trước đây. Quá hoảng sợ, cô bé chạy trở về nhà. Nếu đứa trẻ đến từ một gia đình khỏe mạnh về tâm lý thì đứa bé sẽ cảm thấy thoải mái và an toàn khi đi ra thế giới bên ngoài. Bố mẹ của đứa bé sẽ cổ vũ trẻ tiếp tục hành trình của mình vào ngày mai một lần nữa. Nhưng nếu đứa trẻ đến từ một gia đình không lành mạnh, thì trẻ sẽ thấy mình bị mắc kẹt, cô ấy đập cửa nhà mình, cầu xin sự giúp đỡ khi cô bé tưởng tượng có con quái vật đằng sau lưng mình. Cô ấy nhìn thấy ánh sáng qua khe hở của cánh cửa , một tia hy vọng khiến cô ấy càng cố gắng hơn, hy vọng nhận được sự giúp đỡ của cha mẹ. Nhưng không ai đến cứu cô bé. Cô bé càng đập cửa nhà mình thì cô bé càng trở nên tuyệt vọng. Và trường hợp của người bị ám ảnh tình yêu (Obsessive lovers) cũng như vậy. Obsessive lovers vẫn cố gắng gõ cửa, nhưng trong lần này, thì đối tượng của họ thay thế cho hình ảnh cha mẹ. Obsessive lovers tự thuyết phục mình rằng đằng sau cánh cửa là cứu tinh của họ, người có thể xóa đi sự cô đơn và cảm giác tuyệt vọng, bị bỏ rơi. Mặc dù họ nhận thức được về mặt lý trí, rằng đối tượng là một người cư ngụ mới trong ngôi nhà, nhưng tia hy vọng mà họ nhìn thấy dưới cánh cửa đem lại cho họ sự hứa hẹn mang đầy cảm xúc mà họ có hồi bé – đó là được kết nối lại với cảm xúc cội nguồn của hạnh phúc. Khi Obsessive lovers cảm nhận được cái cảm giác thần bí và khó nắm bắt ấy (cảm giác kết nối hoàn hảo với mẹ) đang ở rất gần trong tay họ, thì mọi thứ trong thế giới này trở nên nhỏ bé , không đáng quan tâm. Nguồn năng lượng ban sơ của họ được khuấy động bởi những kỳ vọng to lớn có thể khiến Obsessive lovers cảm thấy cuộc sống của họ sinh động hơn, nó thúc đẩy họ theo đuổi sự kết nối hạnh phúc.

Sự từ chối: Nền tảng của sự cưỡng bức kết nối

Sự từ chối diễn ra dưới nhiều hình thức – một số hình thức từ chối thì rõ ràng, một số khác thì không. Bây giờ chúng ta hãy xem xét trường hợp của Robert. Anh ấy bị bố mẹ từ chối bằng hình thức không ủng hộ, cha mẹ có những kỳ vọng không thực tế khiến cho đứa trẻ không bao giờ có cơ hội đạt được những kỳ vọng đó, Cha mẹ hay phê bình, là người hoàn hảo, độc đoán. Robert nói rằng: Không việc gì tôi làm là đủ tốt đối với cha mình. Nếu tôi bỏ quên một quyển sách ở trên bàn thì tôi sẽ nhận được một bài giáo huấn của ông về thói bừa bộn. Nếu tôi không đạt điểm tốt ở trường thì tôi sẽ nhận được sự phê bình là không học hành chăm chỉ.

Robert nghĩ rằng lý do duy nhất mà anh ấy không thể đạt được những tiêu chuẩn của cha là vì anh ấy yếu kém. Nhưng anh ấy nằm mơ cũng không bao giờ thấy được rằng những tiêu chuẩn của cha anh là không thực tế. Anh ấy chỉ biết cố gắng và cố gắng để đáp ứng những tiêu chuẩn đó. Và anh ấy càng cố gắng bao nhiêu, anh ấy càng cảm thấy nhục nhã khi mình thất bại.

Hầu hết những đứa trẻ bị cha mẹ từ chối đều trải nghiệm cảm giác nhục nhã. Những cảm giác đó đã bóp méo nhân cách của đứa trẻ, ảnh hưởng đến khả năng kết bạn của trẻ. Như trường hợp của Robert, anh ấy có quãng thời gian khó khăn ở trường học. Anh ấy hay xấu hổ, sống thu mình, cảm thấy như bị bạn bè chế giễu. Nó đã gây tổn hại cho cảm nhận về giá trị bản thân của anh. Có một điều phổ biến là những đứa trẻ bị gia đình từ chối thường trở thành nạn nhân của việc bị bạn bè đồng trang lứa từ chối. Nhiều người sợ tiếp xúc với bạn bè. Một số khác thì cố gắng bù trừ cho cảm giác khiếm khuyết của mình bằng cách bắt nạt người khác hoặc có những hành động điên rồ để thu hút sự chú ý.

Sự từ chối của đối tượng đã khơi lại những tổn thương thời quá khứ của Obsessive lovers. Nó làm hồi phục lại cuộc chiến đấu cũ, thân quen của họ (khi muốn giành sự yêu thương, ủng hộ của cha mẹ họ), nhưng bây giờ, cuộc chiến đấu giành tình yêu của họ có vẻ như to lớn hơn, mạnh mẽ hơn, gian khổ hơn vì họ đã là người lớn. Obsessive lovers có thể dự đoán trước về khả năng thành công của cuộc chiến này. Đối tượng của Obsessive lovers không hay biết rằng mình đã đem lại cho Obsessive lovers một cơ hội thứ hai, một cơ hội của cuộc đời Obsessive lovers. Trong một số mối quan hệ thì đối tượng từ chối Obsessive lovers ngay từ lúc ban đầu. Nhưng trong những mối quan hệ khác khi đối tượng phần nào đó cũng yêu thương và chấp nhận Obsessive lovers thì Obsessive lovers cũng có một nhu cầu vô thức là tìm kiếm những cách thức mà họ bị đối tượng từ chối. Đó là một nhu cầu cơ bản của tất cả những Obsessive lovers. Nếu không có sự từ chối thì sẽ không có sự tranh đấu, như vậy sẽ không có cơ hội để chiến thắng.

Bằng cách chuyển dịch hình ảnh người yêu thành một biểu tượng cho bố mẹ, mối quan hệ của họ trở thành một rạp hát mà trong đó, họ để cho vai diễn cũ đóng một vai diễn mới thú vị hơn. Mục đích của việc này là đem lại cho vai diễn cũ một kết thúc mới- một kết thúc có hậu.

Những sự kiện quen thuộc, những cảm xúc quen thuộc

Ta hãy xem xét trường hợp của Margaret, mặc dù ban đầu cô ấy phản đối gợi ý của nhà tham vấn rằng cô ấy đang dùng Phil (người yêu của cô) như một biểu tượng về người cha. Nhà tham vấn đã chỉ ra điểm nổi bật giữa 2 người đàn ông như sau:

– Cha cô rời bỏ cô mà không báo trước.
– Phil rời bỏ cô mà không báo trước.
– Cha cô bỏ rơi cô để đến với người phụ nữ khác.
– Phil bỏ rơi cô để đến với người phụ nữ khác.
– Cha cô vẫn gọi điện thoại về cho cô (dù không thường xuyên) để khiến cô vẫn nuôi hy vọng về ông.
– Phil vẫn quan hệ tình dục (dù không thường xuyên) với cô để khiến cô vẫn nuôi hy vọng về anh.
– Cha cô thể hiện sự thiếu quan tâm trong việc duy trì mối quan hệ cha con sau khi ông rời bỏ cô.
– Phil cũng thể hiện sự thiếu quan tâm đến cô sau khi anh rời bỏ cô.

Khi còn là một cô gái bé nhỏ, Margaret không thể làm được việc gì để ngăn cha không bỏ rơi mình. Nhưng bây giờ với Phil, cô có một cơ hội để vượt qua, để chiến thắng những cảm xúc bất lực thời thơ ấu. Thay vì trở nên bị động như khi còn bé, bây giờ cô ấy chủ động đấu tranh trước sự từ chối của Phil đối với cô. Cô vô thức tin tưởng rằng nếu cô có thể thay đổi Phil thì cuối cùng cô ấy có thể chiến thắng trước sự từ chối của cha. Khi nhà tham vấn (tác giả cuốn sách này) so sánh giữa 2 người đàn ông thì sự tương đồng giữa họ càng trở nên rõ ràng hơn đối với cô.

Những sự kiện khác nhau, những cảm xúc giống nhau

Trường hợp của Ray, sự tương đồng giữa người mẹ của anh và biểu tượng về người mẹ (người yêu Ray- Karen) không rõ ràng như của Margaret. Ray làm nghề quay phim. Anh là người có tính sở hữu và hay cảm thấy bất an. Anh ấy cảm thấy sợ hãi khi người yêu sống cùng anh là Karen trong những lúc mà cô ấy ở đằng sau cánh cửa phòng tắm.

Khi còn bé, Ray liên tục cảm thấy mình bị chối bỏ bởi người mẹ nghiện rượu . Mẹ anh không đánh đập anh hay đuổi anh ra khỏi nhà, nhưng bà lại bỏ bê, ít quan tâm đến anh về mặt tình cảm, xúc phạm anh (bạo lực về tinh thần). Khi sống với Karren, anh không bao giờ thấy Karren uống rượu, cô cũng không nói những lời nói gây tổn thương anh về mặt tình cảm. Thực tế là cô ấy cố gắng trở thành một người bạn đời đáng yêu. Nhưng cô ấy chỉ có một mong muốn nho nhỏ là có được chút không gian riêng tư trong phòng tắm. Điều này đã đánh thức nỗi sợ hãi bị bỏ rơi của Ray trong quá khứ.

Thực tế là, giới tính (nam, nữ) không liên quan đến sự lựa chọn biểu tượng cha mẹ . Người yêu là đàn ông có thể đại diện cho người mẹ; người yêu phụ nữ có thể đại diện cho người cha. Cả hai giới (người yêu) đều có thể đại diện cho cả cha lẫn mẹ.

Nguồn gốc vấn đề của vị cứu tinh

Nhu cầu muốn cứu giúp vấn đề của người yêu có gốc rễ sâu xa. Vị cứu tinh thường đến từ những gia đình mà ở đó ít nhất là cha hoặc mẹ là người nghiện rượu, hoặc có vấn đề về bệnh kinh niên, trầm cảm, những vấn đề về sức khỏe thể chất hay tinh thần. Vì những vấn đề đó của cha mẹ nên họ không thể đáp ứng nhu cầu cảm xúc của đứa trẻ. Do đó đứa trẻ cảm thấy mình bị chối bỏ (Hãy nhớ là sự chối bỏ có nhiều hình thức- rõ ràng hoặc mơ hồ). Đứa trẻ cố gắng vượt qua cảm giác bị chối bỏ bằng cách nhận lãnh trách nhiệm về việc bị cha mẹ bỏ bê, hy vọng rằng nó có thể giành lại được sự ủng hộ của cha mẹ. Đứa trẻ giả định rằng mình đang đóng vai cha mẹ của chính mình. Tất cả những đứa trẻ này đều trở nên ám ảnh với việc phải đóng thành công vai trò cha mẹ, trở thành những người chăm sóc- như là một cách để đấu tranh sinh tồn và vượt qua cảm giác bị chối bỏ. Khi trở thành người lớn, họ lại đấu tranh bằng cách cứu giúp cho người yêu của mình (người yêu là biểu tượng của cha mẹ). Họ đóng vai người chăm sóc cho người yêu (đó là vai mà họ học được khi còn bé) với hy vọng là cuối cùng sẽ cứu được và dành được sư ủng hộ mà họ luôn khao khát.

Tự giải thoát mình khỏi tình yêu ám ảnh

Khi tác giả tư vấn cho những trường hợp Obsessive lovers, những thân chủ này nói với bà là họ nghĩ rằng mình bị điên. Họ lo lắng rằng họ sẽ không bao giờ trở lại bình thường được nữa. Đây không phải là những cảm xúc mà tình yêu gây ra. Đây là cảm xúc của sự ám ảnh. Những thân chủ đó không phải đang mô tả về tình yêu mà thực ra họ đang mô tả về cuộc khủng hoảng cảm xúc đang diễn ra trong họ. Nhưng cuộc khủng hoảng có thể là một điều có ích. Trong tiếng Trung Quốc, khủng hoảng là sự kết hợp của “nguy hiểm “ và “cơ hội”. Thật là một cách hiểu sâu sắc về khủng hoảng. Tình yêu ấm ảnh đe dọa đến sự khỏe mạnh tinh thần của Obsessive lovers nhưng nguy hiểm là một dấu chỉ đánh thức nhu cầu thay đổi, nó đem lại cho bạn một cơ hội để tự giải phóng bản thân.

Phần lớn những Obsessive lovers tác giả gặp trong trị liệu tâm lý đến phòng tham vấn với hy vọng rằng nhà tham vấn sẽ giúp họ tìm ra một con đường để đem người yêu trở về với họ. Họ muốn nhà tham vấn “ sửa chữa “ lại con người của mình để Obsessive lovers trở nên quyến rũ hơn, đáng yêu hơn trong mắt người yêu. Nhưng không may là họ đã đi sai hướng. Mục đích của tham vấn không phải là để mang người yêu về với bạn mà là mang con người thật về lại với bạn.

Nếu bạn muốn giải thoát mình khỏi nỗi đau khổ của tình yêu ám ảnh thì bạn phải chuyển hướng sự chú ý của bạn từ người yêu sang bản thân mình. Khi mà bạn còn trao sự bình an nội tâm của mình vào tay người yêu, nếu người ấy chấp nhận bạn thì bạn như sống ở thiên đàng. Nếu người ấy từ chối bạn thì bạn như sống ở địa ngục. Bạn đã không công bằng với bản thân khi trao nhầm trách nhiệm làm mình hạnh phúc sang người khác. Nhưng nếu bạn tập trung vào bản thân, nếu bạn bắt đầu nhận trách nhiệm cho sự khỏe mạnh tinh thần về mình ở nơi mà nó thuộc về. Bạn thực hành điều này không phải với mục đích là mang người yêu về lại ( làm ơn đừng nhầm lẫn ). Chiến thắng quan trọng nhất của bạn là tái khám phá lại bản thân mình.

Trong 2 tuần lễ đầu tiên của quá trình chữa lành bản thân, tôi sẽ không yêu cầu bạn dừng ngay việc gặp người yêu hoặc là dừng suy nghĩ về người yêu. Tôi sẽ không yêu cầu bạn dừng ngay những hành động có tính chất ám ảnh này. Bạn có thể lo sợ rằng nếu bạn từ bỏ tình yêu ám ảnh này thì bạn sẽ từ bỏ tình yêu mãi mãi. Thay vào đó, chúng ta sẽ tiến hành việc này một cách từ từ, cẩn thận và không gây đau đớn.

Quan sát những ám ảnh của bạn:

Trước khi bạn có thể bắt đầu hành trình tự giải thoát bản thân khỏi những suy nghĩ, cảm xúc, hành vi ám ảnh vì tình yêu, bạn phải trước hết nhận thức được chính xác chúng là gì và chúng ảnh hưởng đến bạn như thế nào.

Hành vi ảm ảnh của bạn bắt đầu từ những suy nghĩ và cảm xúc bạn có về người yêu. Mỗi lần bạn trở nên ám ảnh bởi những suy nghĩ về người yêu, tôi muốn bạn ghi lại những suy nghĩ đó. Nếu bạn chỉ có một suy nghĩ thoáng qua trong đầu thì bạn không cần phải ghi nó ra. Nhưng nếu suy nghĩ nào hay trở đi trở lại trong đầu bạn, gây lo lắng cho bạn thì bạn cần ghi ra. Mỗi lần ghi chú của bạn phải bao gồm ngày, giờ và trả lời 6 câu hỏi sau :

1. Điều gì gây ra những suy nghĩ này ? Để trả lời câu này, bạn phải nhận ra những kích thích nào xuất hiện, ví dụ như một âm thanh, mùi vị, một vật, một bộ phim, bản nhạc, một nơi chốn… tất cả những thứ khiến bạn nghĩ về đối tượng.

2. Tôi đã nghĩ gì? Cố gắng ghi súc tích lại những ý nghĩ, nó bao gồm : những ký ức, những tưởng tượng, mơ ước, ý kiến. Ví dụ: Tôi nhớ anh ấy uống rượu bằng cái ly này; Tôi tự hỏi anh ấy đang làm gì lúc này…

3. Tôi đã cảm nhận như thế nào? Những cảm xúc của bạn bao gồm: hạnh phúc, buồn, tức giận, tội lỗi, ghen tuông, lo lắng, hứng thú, sỉ nhục…

4. Tôi đã muốn làm gì? khi bạn có những cảm xúc như trên thì nó buộc bạn phải hành động, phải làm một cái gì đó, ví dụ như là gặp anh ấy, hay uống rượu…

5. Tôi đã làm gì?

6. Kết quả ra sao?

Điều quan trọng là phân biệt được giữa suy nghĩ và cảm xúc. Phần lớn chúng ta mắc sai lầm khi diễn đạt những suy nghĩ của mình như thể chúng là cảm xúc. Ví dụ : Chúng ta nói “ Tôi cảm thấy bộ phim này quá dài “. Nhưng thực ra thì không có cái cảm xúc gọi là “ Bộ phim quá dài”. Đó là một suy nghĩ. Cảm xúc về bộ phim có thể là: nhàm chán, thất vọng. Sau đây là vài ví dụ :

“Tôi cảm thấy người yêu của tôi đang nhìn ai đó “.
Suy nghĩ : Người yêu của tôi đang nhìn ai đó.
Cảm xúc : Sợ hãi, ghen tuông, tức giận.

“Tôi cảm thấy như thể chúng tôi sẽ trải qua quãng thời gian còn lại của cuộc đời ở bên nhau”
Suy nghĩ: Chúng tôi sẽ trải qua quãng thời gian còn lại của cuộc đời ở bên nhau.
Cảm xúc: Hy vọng, vui sướng, yêu thương.

Chỉ có một con đường duy nhất để giải thoát khỏi nỗi đau khổ của tình yêu ám ảnh: đó là chấm dứt “ hệ thống ám ảnh”. Hệ thống này bao gồm 3 yếu tố: những suy nghĩ ám ảnh, những cảm xúc ảm ảnh và những hành vi ám ảnh. 3 yếu tố đó đã nuôi dưỡng lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau: Những suy nghĩ tạo ra những cảm xúc, và cảm xúc dẫn đến hành động và hành động kích thích suy nghĩ nhiều hơn và nó khởi động lại vòng tròn này một lần nữa.

Chúng ta sẽ bắt đầu quá trình cắt đứt hệ thống ám ảnh này bằng cách tập trung trước tiên vào việc thay đổi những suy nghĩ và hành động của bạn. Bạn có thể thắc mắc tại sao tôi không làm việc trực tiếp với cảm xúc trước tiên. Tôi không có ý phủ nhận tầm quan trọng của cảm xúc nhưng đã có quá nhiều thân chủ tôi làm việc bao năm qua , họ thuyết phục mình rằng trước khi họ có thể bắt đầu công việc thì họ cần phải cảm thấy mạnh mẽ hơn và bớt lo âu hơn. Nói cách khác, họ dùng cảm xúc của họ như một cái cớ để trì hoãn không tiến hành những việc họ cần phải làm. Sự thực là, tiến hành hoạt động sẽ khiến bạn cảm thấy mạnh mẽ hơn, bình tâm hơn. Khi bạn thay đổi những suy nghĩ và hành động của mình, những cảm xúc của bạn- một phần của hệ thống – sẽ buộc phải thay đổi cùng với 2 thành tố kia.

Đối với Obsessive lovers thì cái ý nghĩ từ bỏ người yêu, từ bỏ cuộc theo đuổi đối tượng, ngay cả chỉ trong một thời gian ngắn, tưởng chừng như không thể làm được. Nó giống như việc yêu cầu họ ngừng thở. Giống như khi tôi làm việc với người nghiện rượu, khi tôi yêu cầu họ điều đầu tiên họ cần làm là dừng uống rượu, phản ứng đầu tiên của họ là “ Từ bỏ cái gì cũng được, trừ rượu”- anh ta có thể từ bỏ tất cả mọi thứ, trừ thứ anh ta cần nhất trên đời. Trường hợp này cũng giống như Obsessive lovers. Như thể là không có sự lựa chọ nào cả. Sau đây là vài ví dụ:

“ Tôi đã cố gắng dừng những hành động đó nhưng tôi không thể”.
“ Có cái gì đó đã kiểm soát tôi “
“ Tôi không thể làm được gì về việc này”

…Những phát biểu trên của Obsessive lovers là niềm tin của họ khi cho rằng họ không có sự lựa chọn, họ buộc phải hành động theo cách như vậy khi theo đuổi đối tượng.

Sự thực là, những hành vi ám ảnh của bạn không thực sự nằm ngoài tầm kiểm soát của bạn, bạn chỉ là đang cảm nhận như vậy thôi. Cái niềm tin rằng bạn không thể kiểm soát được bản thân là một hình thức của phủ nhận mà nó cho phép bạn né tránh việc nhận lãnh trách nhiệm cho những hành động của mình. Chìa khóa để kiểm soát hành vi ám ảnh của mình đó là nhận ra rằng không phải có điều gì xảy đến với bạn, nó là sự lựa chọn của bạn.

Bạn cần chấm dứt những hành động sau:

Không xuất hiện trước mặt người yêu.
Không gọi điện thoại.
Không rình rập.
Không nhắn tin.
Không tặng quà.
Không vô tình lái xe ghé ngang qua nhà người yêu hoặc cơ quan của họ.

Khi bạn lựa chọn không thực hiện những cách thức như trên thì bạn sẽ cảm thấy mình mạnh mẽ hơn. Bạn có thể lựa chọn những hành động không có tính ám ảnh nếu bạn thực sự muốn. Điều đó không dễ dàng và nó trái ngược với mong muốn của bạn, nhưng nếu bạn nỗ lực thêm nữa, bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên khi nó khiến bạn cảm thấy mình mạnh mẽ và bình tĩnh hơn.

Thay đổi hành vi của mình như thế nào.

Chú ý đến hành vi của bạn.

Chuyển những hành động có tính cưỡng bức sang những hành động có lựa chọn .

Nói chuyện với bạn bè , nhờ họ giúp đỡ. Vì khi bạn nói về vấn đề thì bạn sẽ ít có khả năng thực hiện chúng.

Chuyển hướng hành động. Khi bạn thấy thôi thúc thực hiện hành vi ám ảnh thì hãy chuyển hướng năng lượng tinh thần sang một hoạt động bổ ích hơn. Ví dụ như thập thể dục. Bạn có thể chuyển hướng những hành vi ám ảnh đó sang những hành động tốt cho sức khỏe của mình, và nó sẽ giúp bạn cảm thấy tốt hơn về mặt cảm xúc.

Kiểm soát những suy nghĩ ám ảnh

Tránh những kích thích gây ra suy nghĩ ám ảnh. Bạn có thể nhận ra những kích thích gây ra suy nghĩ ám ảnh của mình bằng cách trả lời câu hỏi số một ở phần trên. Bạn có thể dấu đi hoặc vứt bỏ những vật dụng khiến bạn nhớ đến đối tượng.

Sự thực về mối quan hệ của bạn
Kiểm tra lại tình trạng mối quan hệ của bạn:

Mối quan hệ của bạn đã kết thúc nếu :

– Người yêu của bạn đã cắt đứt tất cả liên lạc với bạn.

Mối quan hệ của bạn không thể tiếp tục nếu:

1. Bạn phải chủ động liên lạc với người yêu.

2. Người yêu của bạn hiếm khi trả lời những cuộc điện thoại của bạn.

3. Sau khi chia tay bạn, người yêu của bạn muốn bắt đầu hoặc đã bắt đầu hẹn hò với người khác.

4. Cách duy nhất khiến người yêu của bạn dành thời gian cho bạn là khiến anh/cô ấy cảm thấy có lỗi hay thương hại bạn.

5. Sự ghen tuông, sở hữu, bạo lực và những hành động theo đuổi liên tục của bạn khiến người yêu của bạn tức giận hoặc sợ hãi.

6. Tình dục là thứ duy nhất bạn và người yêu thích khi ở bên nhau hoặc đó là thứ duy nhất 2 bạn làm với nhau.

7. Người yêu của bạn đã kết hôn với người khác, mặc dù người ấy hứa hẹn, nhưng họ vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy sẽ chia tay hay ly dị bạn đời.

8. Người yêu của bạn không chịu trách nhiệm về vấn đề tài chính của bản thân và trông chờ bạn sẽ giúp họ thoát khỏi những rắc rối tài chính.

9. Người yêu của bạn có vấn đề với rượu, cờ bạc, thuốc phiện , không chịu trách nhiệm cá nhân cho những vấn đề của chính họ.

Bạn hãy trả lời trung thực những câu trên, đừng hợp lý hóa cho việc người yêu không muốn dành thời gian cho bạn bằng lý do kiểu như “ người ấy đang bận”… Câu đầu tiên chỉ gồm một item. Nếu bạn trả lời “có” nhưng bạn vẫn không từ bỏ ảo tưởng rằng bạn vẫn còn duy trì mối quan hệ với người yêu, thì đây là lúc đối diện với sự thật. Bất kể sự thật đau đớn ra sao, nhưng cuối cùng nó sẽ gây tổn thương ít hơn sự đau khổ mà bạn phải chịu đựng nếu bạn tiếp tục theo đuổi một người từ chối bạn.

Tôi muốn lưu ý với các bạn một vấn đề như thế này, nếu các bạn đọc xong bài viết và nghĩ rằng mình là một "Obsessive lover" hay đang bị "Obsessive lover" theo đuổi thì đừng quá lo lắng, hãy suy nghĩ về Hiệu ứng Forer khi bạn trả lời các câu hỏi được nêu trong bài viết. 

Hiệu ứng Forer đã được tôi đề cập trong bài viết vui "Chúng ta liệu có khác nhau?". Mặc dù, trong bài viết đó tôi không giải thích rõ về Hiệu ứng Forer là gì nhưng các bạn có thể tìm kiếm thông tin bằng Google.