Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp luật và Quan điểm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp luật và Quan điểm. Hiển thị tất cả bài đăng

Xét xử lưu động: Tiếp tục hay dừng lại (Phần 02)

             Một lập luận khác đề nghị hủy bỏ việc xét xử vụ án dưới hình thức phiên tòa lưu động, đó là "Có vụ án tới hàng nghìn người tham dự, trong đó có cả trẻ em. Điều này sẽ ảnh hưởng không tốt đến tâm lý của những em bé này khi lớn lên, nếu xét xử tại tòa án chỉ người đủ 18 tuổi mới được vào dự" - Luật sư Nguyễn Hữu Thế Trạch (Đoàn Luật sư TP HCM) - Trong bài báo "Quan điểm trái chiều về xét xử lưu động" - Vnexpress.net.

             Xét xử lưu động: Tiếp tục hay dừng lại? (Phần 01)

            Trước khi đi vào nội dung chính của bài viết tôi muốn trao đổi qua một chút về độ tuổi được vào phòng xử án là 16 tuổi theo quy định tại điểm 3 Điều 3 Nội quy phiên tòa ban hành kèm theo Thông tư số 01/2014/TT-CA của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Ảnh minh họa. Nguồn: Báo Công lý
           
            Trẻ em dưới 16 tuổi "dự phiên tòa", lỗi do ai?

            Ở đây, tôi muốn lưu ý một điều việc "dự phiên tòa" ở đây nghĩa là đứng gần hội trường xét xử nghe được nội dung của phiên tòa xét xử nhưng không đứng trong phạm vi của hội trường xét xử, vì dưới 16 tuổi thì không được tham dự phiên tòa.

            Việc cấm người dưới 16 tuổi tham dự phiên tòa chỉ có hiệu lực trong khuôn viên của hội trường xét xử nên việc người 16 tuổi gián tiếp tham dự phiên tòa là ngoài phạm vi quyền lực của lực lượng Công an hỗ trợ tư pháp, vì không có thẩm quyền yêu cầu người dưới 16 tuổi rời xa hội trường xét xử đủ để không nghe thấy các diễn biến của phiên tòa.

            "Vậy tại sao cơ quan tiến hành tố tụng không điều chỉnh âm lượng vừa đủ trong hội trường xét xử!?" - Tôi hoàn toàn nhất trí, nếu đã ngăn cấm người dưới 16 tuổi tham dự phiên tòa thì cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải điều chỉnh âm thanh phù hợp, không chỉ bởi tránh người dưới 16 tuổi tham dự phiên tòa gián tiếp mà còn tránh gây ảnh hưởng đến cuộc sống người dân xung quanh hội trường xét xử. Nhưng đó là nghiệp vụ tổ chức hội trường xét xử chứ không phải là khuyết điểm của hình thức xét xử lưu động.

            Một yếu tố khác dẫn đến việc người dưới 16 tuổi gián tiếp tham dự phiên tòa là do sự chủ quan thiếu quan tâm của người giám hộ, thông thường là cha mẹ của họ. Đối với những vụ án lớn trọng điểm được tổ chức dưới hình thức xét xử lưu động đều có thông báo, niêm yết lịch xét xử vụ án tại UBND xã, phường, thị trấn nơi tổ chức xét xử lưu động. Nếu cho rằng nội dung xét xử vụ án sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của con mình (người dưới 16 tuổi) thì người giám hộ cần có biện pháp thích hợp để tránh việc con mình tham dự phiên tòa một cách gián tiếp.

            Thông tin vụ án trong phiên tòa có thực sự ảnh hưởng tới hành vi của người nghe?

            Như mọi người đều biết, con người có năm giác quan, Thính giác (nghe), Thị giác (nhìn), Xúc giác ( cảm giác qua da thông qua tiếp xúc, đụng chạm), Vị giác ( mùi vị), Khứu giác (mùi hương). Khi kích  thích các giác quan trên sẽ tạo ra tín hiệu truyền đến bộ não, từ đó quyết định ra phản ứng, suy nghĩ, hành động. Một thông tin phải được lặp đi lặp lại nhiều lần và liên tục thì mới đủ sức ảnh hưởng đến nhận thức của con người.

            Đối với các vụ án trọng điểm được dư luận quan tâm thì nội dung, diễn biến của quá trình gây án không phải tới lúc phiên tòa xét xử diễn ra mới biết, mà từ hành vi phạm tội được phát hiện đã được báo chí đăng tải tràn lan, các phương tiện truyền thanh truyền hình đưa tin, các diễn đàn mạng bàn tán, thông tin trên mạng xã hội gần như liên tục cập nhập, chia sẻ, và có ai có thể khẳng định rằng các nội dung đó sẽ không bị người dưới 16 tuổi đọc được? Thậm chí khi vụ án xảy ra, người người bàn tán, nhà nhà bàn tán, đưa thêm các yếu tố ly kỳ để câu chuyện thâm phần hấp dẫn, và khi bàn tán họ sẽ loại trừ người dưới 16 tuổi? Không!

            Một phiên tòa diễn ra không phải là một vở kịch, một chương trình giải trí mà mọi thứ phải được tiến hành theo quy định của pháp luật nên nhìn chung rất là nhàm chán, chính vì vậy, nếu như bạn là người không liên quan đến vụ án thì tôi không chắc chắn rằng bạn có thể tập trung để theo dõi từng chi tiết, lắng nghe từng câu chữ khi phiên tòa xét xử diễn ra. Chính vì thế, không thể khẳng định rằng, việc lặp đi lăp lại hành vi phạm tội của bị cáo sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của người dưới 16 tuổi đang tham dự phiên tòa một cách giám tiếp.

            Đến nay, vẫn chưa thấy bất kỳ một vụ án nào được ghi nhận là do hung thủ bị ám ảnh bởi nội dung phiên tòa xét xử lưu động, nhưng bị ám ảnh bởi các bộ phim, trò chơi điện tử trực tuyến, truyện... có tính bạo lực cao thì khá nhiều, ví dụ: GAME; PHIM

            Như vậy, rất khó để chứng minh rằng các thông tin về vụ án được trình bày trong việc xét xử vụ án có thể ảnh hưởng đến người nghe mà cụ thể là người dưới 16 tuổi tham dự phiên tòa gián tiếp.

            Vậy đến đây, tôi xin dừng bài viết liên quan đến các quan điểm đề nghị hủy bỏ hình thức xét xử lưu động, mặc dù muốn trình bày thêm một số quan điểm để phản biện lại đề nghị hủy bỏ hình thức xét xử này nhưng tựu chung tôi thấy chỉ có 02 lý do này là lớn nhất nên tôi chỉ dừng lại ở đây.

Xét xử lưu động: Tiếp tục hay dừng lại? (Phần 01)



            Sau khi vụ án giết 06 người ở tỉnh Bình Phước được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đưa ra xét xử lưu động, đã có rất nhiều ý kiến lên tiếng phản đối hình thức xét xử lưu động, tuy nhiên đây không phải là lần đầu tiên nhưng là rầm rộ nhất. Tôi không có ý kiến gì về việc tiếp tục hay dừng lại hình thức xét xử lưu động, tôi chỉ quan tâm đến lý lẽ mà người phản đối đưa ra có thuyết phục để dừng lại hay chưa!? Rất đơn giản, bạn muốn phản đối một việc đã và đang diễn ra thì bạn phải đưa ra lập luận và chứng cứ chứng minh cho sự tồn tại của việc đó là ảnh hưởng đến lợi ích của cộng đồng, đi ngược lại với sự phát triển của xã hội.
 
            Đến nay, lập luận mà tôi hoàn toàn ủng hộ đó là quan điểm của ông Ngô Cường - Vụ trưởng Vụ hợp tác quốc tế, Tòa án nhân dân tối cao, quan điểm của ông Ngô Cường cho rằng "Tòa án không phải là cơ quan tuyên truyền pháp luật, nhiệm vụ của Tòa án ra bản án đúng người đúng tội để người ta tin vào công lý". Tất nhiên, nếu chỉ là lý do này thì không đủ để chấm dứt hình thức xét xử lưu động bởi lẽ "biết rồi, khổ lắm, nói mãi".

 
            Sau đây, tôi xin trình bày ý kiến của mình đối với một vài lập luận phản đối hình thức xét xử lưu động khác:

 
            1. Cha mẹ của bị cáo bị ảnh hưởng bởi hành vi của con cái họ cho dù con cái của họ đã thành niên.

             Đầu tiên, tôi muốn hỏi các bạn rằng: "Tôi có phải chịu trách nhiệm về hậu quả do hành vi của người khác gây ra?", tôi tin rất nhiều người sẽ trả lời là "Không, thật vô lý khi tôi phải chịu trách nhiệm về một việc mà tôi không làm". Vâng, hoàn toàn đúng là vậy nhưng... Hãy khoan, thế thì tại sao người Nhật cho đến nay phải xin lỗi Hàn Quốc, Trung Quốc về tội ác mà cha ông họ đã thực hiện trong thế chiến thứ hai, người Úc phải xin lỗi thổ dân vì đã chiếm đất và đối xử tàn nhẫn với người bản xứ, người Mỹ phải xin lỗi người Mỹ gốc Phi về chế độ nô lệ và thời đại phân biệt chủng tộc Jim Crow, nước Đức phải xin lỗi thế giới về tội ác đã diễn ra trong thế chiến thứ hai? Tôi thừa nhận rằng đa số lời xin lỗi đều nhuốm màu sắc chính trị hơn là sự chân thành của người xin lỗi. 
             Nhiều người đã lên tiếng mong muốn chấm dứt hành vi xin lỗi này như Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cho rằng quân đội Nhật Bản không phải chịu trách nhiệm về hành vi ép phụ nữ làm nô lệ tình dục, và Nhật Bản đã xin lỗi đủ... Thủ tướng Úc John Howard cho rằng "Tôi không tin rằng thế hệ người Úc hiện nay phải chính thức xin lỗi và chịu trách nhiệm về hành động của thế hệ trước", Nghị sĩ đảng Cộng hòa, Mỹ, ông Henry Hyde cho rằng "Tôi không bao giờ sở hữu một nô lệ, không bao giờ áp bức bất kỳ ai. Tôi không biết có nên trả bồi thường hộ cho ai đó (đã sở hữu nô lệ) ở các thệ hệ trước khi tôi sinh ra!?". Hầu hết những lập luận này dựa trên một nền tảng lý luận đó là "chủ nghĩa cá nhân về đạo đức" nghĩa là tôi không chịu trách nhiệm đối với hậu quả bị gây ra bởi một hành vi nằm ngoài tầm kiểm soát của tôi. Nếu như bạn ủng hộ lý lẽ này thì bạn đừng nên phản đối mà nên ủng hộ Chính phủ nước ta vay ODA nhiều hơn nữa, vì đơn giản khi thế hệ sau lớn lên họ đâu phải chịu trách nhiệm về những nguồn tiền vay ODA do thế hệ trước đã nhận!? 
             "Không thể nói như thế, vì ODA là nguồn vốn vay sử dụng để phát triển kinh tế hạ tầng cho sự phát triển của đất nước, chúng tôi là thế hệ sau được thừa hưởng những thành quả đó thì phải có trách nhiệm trả nợ", đúng là như thế bây giờ tôi xin giới thiệu đến các bạn một bộ phim của hãng Amazon có tựa đề "The Man in the hight castle" (tạm dịch sang tiếng Việt theo nghĩa của bộ phim "Thế giới khác"), trong bộ phim này đạo diễn đã xây dựng một xã hội mà ở đó phe pháp xít đã chiến thắng trong thế chiến thứ hai và tất nhiên các nước Đức, Ý, Nhật là cường quốc nắm quyền thống trị thế giới, vậy người Nhật, người Đức có cần xin lỗi ai không về tội ác của họ? Không, họ có cảm thấy vui vì thế hệ trước đã gây ra cuộc chiến thế giới thứ hai không? Tất nhiên là có.
             Vậy, nếu bạn nhận thành quả mà thế hệ trước tạo nên thì hậu quả (thất bại) bạn phải chịu trách nhiệm. Nhưng tại sao người Mỹ, người Úc... họ đã chiến thắng thổ dân nhưng phải xin lỗi!? Vì thành quả mà người Mỹ, người Úc hiện nay có được là từ việc xâm chiếm đất đai mà thổ dân là người khai phá và sử dụng trước. Bên cạnh đó, họ còn dùng vũ lực và đối xử dã man với thổ dân. Chính vì vậy, xin lỗi và bồi thường như là một hành động mang tính đạo đức để giải phóng phần nào trách nhiệm về mặt tinh thần của họ đối với thổ dân về hành vi của cha ông họ đã thực hiện mà thành quả họ đang hưởng là từ những hành vi không phù hợp với chuẩn mực đạo đức hiện nay.
             Gia đình là môi trường xã hội đầu tiên của một con người (tôi tạm bỏ qua trường hợp trẻ mồ côi), cha mẹ có trách nhiệm giáo dục và nuôi dưỡng con cái của mình (kể cả con nuôi). Trách nhiệm giáo dục con cái đầu tiên và phần lớn là thuộc về cha mẹ của chúng, sau đó là của Nhà nước và cuối cùng là xã hội. Vì đơn giản nếu tôi thành tài, sống có đạo đức thì người được lợi đầu tiên chính là gia đình tôi, sau đó là Nhà nước vì tôi kiếm được nhiều tiền sẽ đóng thuế nhiều cho Nhà nước và cuối cùng là cống hiến cho sự phát triển của xã hội. Vậy, khi tôi là "một sản phẩm lỗi" xâm phạm đến lợi ích của cộng đồng thì cha mẹ tôi phải chịu trách nhiệm cho dù tôi đã đủ 18 tuổi, trách nhiệm ở đây không phải là trách nhiệm theo quy định của pháp luật, mà trách nhiệm trước xã hội, trước cộng đồng vì đã tạo ra "một sản phẩm lỗi".
              "Không, tôi nuôi con vì đó là đạo lý làm cha làm mẹ chứ không phải mong con cái báo đáp lại mình". Vâng, sinh con và nuôi dạy con cái không chỉ là nghĩa vụ mà đó còn là một niềm hạnh phúc thiêng liêng của con người, khi chúng ta sinh ra con cái thì phải chịu trách nhiệm về việc giáo dục con cái, không thể cứ cho rằng qua 18 tuổi là tôi không còn phải chịu trách nhiệm gì nữa vì nó đã thành niên và hoàn toàn tự chịu trách nhiệm về hành vi mình gây ra.
              Như ông bà đã dạy "con dại - cái mang"!
 
              Điều này lại nhắc tôi nhớ đến cái tai nghe (headphone) của tôi mua cách đây một năm, thời hạn bảo hành là một năm. Hết một năm bảo hành, cái tai nghe của tôi hư và tôi đành chịu vì đã hết bảo hành.
            

              Phần 02: Trẻ em dưới 16 tuổi dự phiên tòa, lỗi do ai?

Vụ án tàu Mignonette - Vụ án kinh điển chưa có lời giải.

Ảnh minh họa, nguồn: internet
Sau khi vụ khủng bố tại thành phố Paris của nước Pháp xảy ra, có rất nhiều vấn đề liên quan đến tính công bằng giữa con người với con người, có hay không sự phần phân biệt giữa việc mọi người trên thế giới phản ứng về cái chết của các nạn nhân trong vụ khủng bố tại thành phố Paris và cái chết của các nạn nhân trong các cuộc giao tranh tại các nước khác trên thế giới. 

Thật ra đây chỉ là lý do để tôi nhớ đến một vụ án kinh điển ở thế kỷ 19 mà đến nay vẫn chưa tìm ra được lập luận mang tính thuyết phục nhất để giải quyết vụ án. 


Câu chuyện đã được nhiều báo chí kể lại và tóm tắt như sau:

Tàu Mignonette trên đường đi từ Southampton tới Sydney, dự kiến tơi nơi ngày 19/5/1884. Thủy thủ đoàn có 4 người, Tom Dudley là thuyền trưởng, Edwin Stephens là thuyền phó thứ nhất, Edmund Brooks là thủy thủ. Tất cả đều có tính tình tuyệt vời. Thành viên thứ tư là một cậu nhóc làm trong cabin, Richard Parker 17 tuổi, một cậu bé mồ côi không gia đình. Và đây là hành trình dài đầu tiên của cậu bé. Cậu bé ra đi cho dù bạn bè của cậu ngăn cản không nên đi. Với hi vọng và tham vọng tuổi trẻ, cậu nghĩ rằng hành trình này sẽ khiến cho cậu trở thành người đàn ông đích thực.
Con tàu bị chìm ở Nam Đại Tây Dương, ngày 5/7/1884, cách mũi đất 130 dặm. Một cơn sóng to ập vào tàu và tàu Mignonette bị chìm. Bốn người trên tàu nương mình trên một chiếc thuyền cứu sinh không có nước ngọt. Thức ăn duy nhất là hai can củ cải ướp bảo quản. Trong ba ngày đầu họ không ăn gì, ngày thứ 4 họ khui một can củ cải để ăn. Ngày hôm sau họ bắt được một can củ cải khác và một con rùa. Con rùa giúp họ cầm cự thêm được vài ngày. Và tám ngày sau họ chẳng có gì. Không thức ăn. Không nước uống. Lúc đó, cậu bé Parker nằm dưới thuyền cứu hộ, cậu bị kiệt sức bởi không nghe lời của những người kia mà uống nước biển. Cậu đang chết từ từ.
Vào ngày thứ mười chín, thuyền trưởng Dudley đề nghị họ nên bốc thăm rằng ai sẽ hy sinh để cứu những người còn lại. Brooks từ chối, ông ta không thích ý tưởng bắt thăm và cuối cùng mọi người cũng không bắt thăm.
Ngày hôm sau, họ không nhìn thấy tàu bè nào cả. Vì vậy, Dudley bảo Brooks nhìn đi chỗ khác và ra hiệu với Stephens rằng cậu bé Parker nên bị giết. Dudley cầu nguyện và nói với cậu bé rằng đã đến lúc và dùng dao đâm vào động mạch cổ của cậu ta.
Brooks đổi quan điểm phản đối đầy tính đạo đức để được chia một phần thức an kinh khủng này. Trong bốn ngày, ba người còn lại đã ăn thịt và uống máu cậu bé. Và sau đó họ đã được cứu sống. Dudley miêu tả việc họ được cứu sống trong nhật kí của mình như sau: " vào ngày thứ hai mươi bốn, khi chúng tôi đang ăn sáng thì cuối cùng cũng xuất hiện một con tàu. Con tàu Đức đã cứu 3 người và đưa họ trở lại Falmouth". Tại đây, họ bị bắt và đem xử.
Điểm khiến cho vụ án này trở nên kinh điển vì nó chứa đựng một nội hàm mà đến nay phần lớn chúng ta phủ nhận nhưng hành động lại theo hướng ngược lại. Ý tôi là rất nhiều ủng hộ việc giết một người để giữ mạng sống cho 03 người, nói cách khác chủ nghĩa vị lợi đã được ủng hộ với mạng sống của con người.

Trước đây trong bài viết về giá trị hạnh phúc của mỗi người, tôi từng thể hiện quan điểm phản đối việc áp dụng thuyết vị lợi vào mạng sống của con người và trong bài viết này, tôi vẫn giữ nguyên quan điểm đó. 


Đầu tiên, đối với vụ án nêu trên, tôi đồng ý với quan điểm của Công tố viên đại diện cho Nữ hoàng Anh khi kết luận rằng “Giết người là giết người”. Sau đây là quan điểm của tôi, tạm thời bỏ qua các quy định của pháp luật, chỉ bàn đến góc độ của đạo đức và sự công bằng nên bạn đừng hỏi tôi rằng, năm 1884 đã có Luật Biển quốc tế chưa? Họ thực hiện hành vi trên vùng biển của nước Anh không? Hay những câu hỏi mang tính hài hước tương tự.


Thứ nhất, những người tham gia chuyến hành trình đó hiểu rõ và buộc phải hiểu rõ những nguy cơ đe dọa đến mạng sống của mình có thể xảy ra trên biển, nhưng họ đã chấp nhận các rũi ro có thể xảy đến để tìm lấy vinh quang. Nếu mỗi cá nhân tham gia chuyến hành trình nêu trên đã chấp nhận rũi ro có thể lấy đi mạng sống của mình thì họ có quyền đẩy cái rũi ro đó cho người khác hay không?


Thứ hai, nếu cho rằng hy sinh một người để cứu 03 người là cần thiết thì chúng ta hãy tưởng tượng tình huống như thế này nhé: Vào một ngày không được đẹp trời cho lắm, bạn đi đến bệnh viện để khám sức khỏe và thật trùng hợp vào ngày cái định mệnh ấy có 03 người bị tai nạn giao thông, một người có nhóm máu trùng với nhóm máu của bạn cần được truyền máu trong khi bệnh viện và các bệnh viện ở khu vực không còn nhóm máu đó, một người bị hư hai quả thận và trùng hợp là hai quả thận của bạn phù hợp để cấy ghép, một người bị ảnh hưởng tim cần được ghép tim gấp. Cả ba người đó đều nguy hiểm đến tính mạng, vậy bạn có sẵn sàng hy sinh bản thân mình để cứu ba người họ? Câu trả lời chắc chắn là không rồi, vậy tại sao Parker phải hy sinh để cứu các thành viên còn lại trên tàu!? Nếu các bạn để ý, các bộ phim chúng ta xem thường có một người nói câu đại loại như thế này:"làm chuyện lớn phải biết hy sinh", nhưng người hy sinh không phải là người nói ra câu nói đó!


Thứ ba, nếu tất cả mọi người trên chiếc thuyền Mignonette đồng ý bốc thăm thì việc giết người có được thừa nhận? Vẫn tạm bỏ qua các quy định của pháp luật, tôi có quyền quyết định mạng sống của mình hay không? Trong bài viết về "quyền bán dâm", tôi có nhắc đến vấn đền chúng ta có sở hữu chính chúng ta hay không và đó cũng là một phần trả lời cho câu hỏi chúng ta có quyền quyết định mạng sống của mình hay không. Nếu các bạn cho rằng có, thì tôi suy đoán rằng các bạn ủng hộ với hành vi trợ tử (giúp người khác được chết để thoát khỏi cảm giác đau đơn do bệnh tật gây ra), các bạn cũng hộ hành vi giúp người khác tự tử, các bạn cũng ủng hộ các hành vi bạo lực sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có thỏa thuận và tất nhiên là tất tần tật các hành vi liên quan đến thể xác con người vì các bạn đang ủng hộ lập luận chúng ta sở hữu vô hạn đối với cơ thể chúng ta. Lưu ý với các bạn rằng, phần lớn những hành vi liên quan đến cơ thể của chúng ta đề bị pháp luật cấm, ví dụ: Bán dâm, bán nội tạng cơ thể, trợ tử, giúp người khác tự tử, thỏa thuận bạo lực....


Thứ tư, nếu như ngay sau ngày Parker bị giết, các thuyền viên còn lại được cứu thì các bạn có cho rằng cái chết của Parker là vô ích hay không vì thực tế Parker không cần phải chết thì các thuyền viên đều được cứu? Nếu như lập luận rằng, làm sao biết được ngay ngày hôm sau sẽ có thuyền thì tôi cũng cho rằng làm sao chắc chắn ngày hôm sau không có thuyền đi ngang qua?


Cuối cùng tôi cho rằng, hành vi của thuyền trưởng Dudley là giết người.

- Bạn không thể đẩy rủi ro mà bạn phải chấp nhận khi thực hiện hành vi cho người khác;
- Không thể lập luận giữa phí tổn và lợi ích đối với mạng sống con người;
- Chúng ta không sở hữu vô hạn đối với cơ thể của chúng ta.
Tôi tự hỏi các bạn sẽ phản ứng như thế nào khi đọc một bài báo viết về một vụ tai nạn giao thông 01 người chết và một bài viết về tai nạn giao thông 100 người chết? Có phải con số người chết ảnh hưởng nhiều đấy chứ. Mặc dù, liên quan đến mạng sống con người, nhiều nhà triết học phản đối áp dụng Chủ nghĩa vị lợi – tối đa hóa lọi ích, nhưng trong thực tế thì không phải vậy. 

Còn bạn, ý kiện của bạn như thế nào?

Bán dâm - Nên hay không nên ?

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Trong thời gian qua, vấn đề nên hay không nên thành lập “khu vực nhạy cảm”, hay nói cách khác là hợp pháp hóa việc bán dâm và các ngành nghề nhạy cảm dễ liên quan đến tệ nạn xã hội khác. Trong bài viết này, tôi bàn đến việc bán dâm. 

Chúng ta có sở hữu chính mình hay không?


Nếu bạn muốn bán một cái gì đó thì trước hết bạn phải sở hữu nó, bán dâm được hiểu là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác (khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003), hiểu theo nghĩa này người thực hiện hành vi bán dâm bán đi khả năng giao cấu với người khác để có được tiền hoặc lợi ích vật chất khác. Nhưng họ có thực sự sở hữu khả năng này hay không?


Tôi xin đề cập đến hai ví dụ, 


- Thứ nhất là việc mua bán thận, hành vi bán thận bị cấm ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đã có rất nhiều lý lẽ ủng hộ cũng như phản đối việc mua bán thận. Bên ủng hộ cho rằng mỗi năm có rất nhiều người chết vì chờ được cấy ghép thận, vậy nếu như thành lập một thị trường tự do về mua bán thận sẽ hạn chế việc người bị chết, mặt khác một người có thể sống bình thường với một quả thận, và dựa trên chủ nghĩa tự do cá nhân, tôi sở hữu không hạn chế đối với các bộ phận trên cơ thể của tôi. Bên phản đối cho rằng, việc cho phép mua bán thận sẽ dẫn đến những hành vi môi giới trung gian kiếm tiền trên bộ phận cơ thể của người bán và sự khó khăn bệnh tật của người mua là vô nhân đạo, bên cạnh đó nếu tôi có quyền sở hữu vô hạn đối với toàn bộ các bộ phận trên cơ thể của tôi thì sau khi tôi bán xong một quả thận tôi phải có quyền được bán đi quả thận thứ hai dù chấp nhận mất mạng, như vậy có nghĩa rằng tôi đã sử dụng mạng sống của mình để có được tiền. 


Nếu chỉ cho phép mua bán những nội tạng dùng để cứu người và không gây nguy hại đến mạng sống của người bán thì có nghĩa rằng bạn không sở hữu vô hạn đối với các bộ phận trên cơ thể của bạn.


- Thư hai, mang thai hộ. Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cho phép hành vi mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Người phụ nữ dùng khả năng tự nhiên của mình để mang thai hộ cho người khác nhưng không được bán khả năng đó. Tại sao tôi chỉ được sử dụng chức năng phụ nữ của tôi cho mục đích giúp người khác chứ không phải vì mục đích có được lợi ích vật chất trong khi nhiều quốc gia trên thế giới cho phép việc đàn ông bán tinh trùng? Thẩm phán tòa án sơ thẩm Tòa án bang New Jersey, Mỹ, R. Harvey Sorkow, lập luận rằng: “Nếu nam giới có thể cung cấp các phương tiện để sinh sản thì phụ nữ cũng phải được phép làm vậy, nếu không được làm thế là phủ nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trước pháp luật”. Tuy nhiên, Chánh án Tòa án tối cao của Mỹ, Robert Wilentz, phủ nhận quyền được bán khả năng sinh con của người phụ nữ với lý do cấu thành hành vi bán trẻ em, và ông khẳng định rằng trong xã hội này có những thứ tiền không thể mua được. Đẻ thuê tương đương với bán con mà bán con là hành vi không thể chấp nhận được trong một xã hội văn minh. Ông cũng phủ nhận lập luận cho rằng tiền để trả cho việc đẻ thuê không phải là mua đứa trẻ vì người đàn ông là cha của đứa trẻ, tiền chi trả cho việc người phụ nữ đồng ý mang thai và đẻ ra đứa trẻ, nói khác đi tiền đó là mua trứng và khả năng mang thai của người phụ nữ chứ không phải mua đứa trẻ mà trứng là một tế bào chứ không phải là hợp tử. Wilentz cho rằng người phụ nữ trong hợp đồng đẻ thuê phải từ bỏ quyền làm mẹ thì mới được nhận khoản tiền đó chứng tỏ rằng họ phải đánh đổi người con của mình để có tiền.


Con người là mục đích hay là phương tiện?


Immanuel Kant (1724 – 1804) phản đối tất cả các hành vi quan hệ tình dục ngoài hôn nhân vì ông cho rằng dù là tự nguyện thì hành vi đó cũng hạ phẩm giá của hai người. Về hành vi mại dâm, Kant cho rằng con người phải coi mình là mục đích chứ không phải là phương tiện để đạt được mục đích, vì người không phải là đồ vật. Và Kant cũng khẳng định rằng không ai có quyền sử dụng tùy ý bản thân mình vì có thể của chúng ta không thuộc quyền sở hữu của chính chúng ta, ông cho rằng “việc cho phép một người vì lợi nhuận mà chấp nhận bị sử dụng nhằm mục đích thỏa mãn ham muốn tình dục củ người khác và tự biến mình thành đối tượng của đòi hỏi đồng nghĩa với việc biến người đó thành đồ vật thỏa mãn thú tính, giống như thỏa mãn cơn đói bằng một miếng thịt bò”.
Dưới góc độ của Kant, khi thực hiện hành vi mua bán dâm người đàn ông quan hệ tình dục với một người đàn bà không phải vì người đàn bà đó mà vì giới tính của bà ta, chính vì vậy hành vi mua bán dâm sẽ hạ thấp giá trị con người xuống nên phải bị phản đối.
Con người phải coi mình là mục đích để hành động chứ không phải là phương tiện để đạt được mục đích.


Có nên hợp thức hóa việc bán dâm?


Cho đến nay, tôi vẫn chưa thấy một lập luận nào đủ sức thuyết phục tôi đồng ý với quan điểm hợp thức hóa việc bán dâm khi mà các lập luận đều chỉ muốn nói đến việc quản lý không được nên cần phải dồn lại thành một khu. Cho đến nay, đa số các quốc gia trên thế giới vẫn phản đối hành vi mua bán dâm. Khi chúng ta gia nhập WTO, câu nói được nhắc đến nhiều nhất đó là “hội nhập chứ không hòa tan” vậy nếu chúng ta thừa nhận hành vi mua bán dâm thì có được coi chúng ta đã bị hòa tan hay không?


Chúng ta phản đối tình dục ngoài hôn nhân, hành vi ngoại tình bị phạt tiền vậy mua dâm có được xem là ngoại tình hay không?


Có quá nhiều câu hỏi chưa được giải đáp một cách thỏa đáng thì vấn đề hợp pháp hóa việc mua bán dâm xem ra còn xa vời.

Công bố thông tin của bị can có phù hợp ?


Từ câu chuyện hai bị can trong vụ án mạng 06 người ở Bình Phước, rất nhiều bình luận và ý kiến về quyền của bị can khi bị các phương tiện truyền thông, mạng xã hội thông tin rộng rãi mặc dù chưa bị kết án bởi một bản án có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn bị xem như đã có tội. Vậy, việc công bố thông tin bị can như thế có phù hợp với quy định của pháp, có phù hợp với đạo đức xã hội hay không? Tôi có một vài ý kiến như sau:

Theo tôi cho rằng “pháp luật đơn giản là những quy tắc được một cộng đồng người thống nhất hoặc theo số đông xây dựng nên để đảm bảo tính ổn định của cuộc sống”, và tôi xin nói một chút về mối liên hệ giữa pháp luật và đạo đức.

“Đạo đức là gì?” Theo Wikipedia thì “Đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế giới, về cách sống. Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội” tôi cho rằng định nghĩa này chưa đầy đủ nhưng hiện tại tôi không tìm ra được một định nghĩa nào đầy đủ hơn để đưa vào bài viết. Theo định nghĩa trên trang Wikipedia thì đạo đức mang tính không gian và thời gian, nghĩa là nó phụ thuộc vào vị trí địa lý của cộng đồng người sinh sống, phụ thuộc vào giai đoạn lịch sử của cộng đồng người đó, nói khác đi đạo đức là một phạm trù không có tính ổn định và thay đổi theo thời gian, không gian.

Nói nghe qua có vẻ giống như việc pháp luật là sản phẩm mang tính cụ thể hóa từ đạo đức, theo tôi thì ít nhất về mặt lý thuyết thì đúng như vậy. Tuy nhiên, không phải quy phạm pháp luật nào cũng phù hợp về mặt đạo đức, vì đơn giản sự phát triển của xã hội bao giờ cũng đi trước các văn bản pháp luật. Do vậy, khi một cộng đồng người ban hành một “luật lệ” để điều chỉnh một quan hệ xã hội thì quan hệ đó đã “tiến hóa” theo một chiều hướng mới mà luật lệ đó đã trở nên lỗi thời để điều chỉnh, hoặc là luật lệ dự đoán trước chiều hướng phát triển của quan hệ xã hội nhưng phán đoán bị sai lệch nên khi đưa vào áp dụng thì lại trở thành rào cản và nó đi ngược lại lợi ích của cộng đồng người. Những trường hợp đó tôi không bàn tới, tôi mong các bạn suy nghĩ về vấn đề ở một xã hội hoàn hảo, ở đó có sự đồng nhất giữa đạo đức và các luật lệ được ban hành.

Tôi sẽ phân tích hành vi công bố thông tin của bị can trên phương tiện truyền thông là có phù hợp với đạo đức và pháp luật hay không trong mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật như tôi đã trình bày ở trên.

Hành vi giết người cướp tài sản là vi phạm nghiêm trọng đạo đức, nó xâm phạm trực tiếp đến quyền được sống của con người. Và tất nhiên, chúng ta phản ứng chống lại những hành vi đó, nhưng ai là người phải chịu trách nhiệm về những hành vi đó? Người thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm, tất nhiên là vậy. Nhưng lúc nào thì chúng ta biết chắc chăn một người (hay một số người) đã thực hiện hành vi? Là khi người thực hiện hành vi bị kết án bởi một bản án có hiệu lực pháp luật.

Vậy, việc công bố thông tin những người chưa bị kết án có vi phạm về mặt pháp luật (đạo đức) hay không? Cái này phụ thuộc vào thông tin được đưa ra như thế nào.

Và tôi trích đăng lại một đoạn trong bài viết “Một góc nhìn về vụ thảm sát Bình Phước” trên báo điện tử Vietnamnet: 

 “……Chẳng hạn phát ngôn “làm thay” nhiệm vụ xét xử của tòa án: Với tài liệu chứng cứ thu thập được và lời khai nhận tội của các nghi can "có đủ căn cứ khẳng định Dương và Tiến đã gây ra vụ giết người, cướp tài sản đặc biệt nghiêm trọng". Có lẽ nên nói rằng: “có đủ căn cứ để cáo buộc Dương và Tiến đã gây ra vụ giết người, cướp tài sản đặc biệt nghiêm trọng”.
Hoặc chẳng hạn phát ngôn: "Trong vụ án này không thể có oan sai, bởi các chứng cứ về vật chất rất rõ ràng. Đến giờ cơ bản chúng tôi đã thu được tất cả tài liệu, chứng cứ, không còn vướng mắc như các vụ án khác". Có lẽ để cẩn trọng, việc khẳng định rằng vụ án không thể có oan sai nên là một nhận định nội bộ thay vì một tuyên bố trước công chúng.
Ngoài ra, một thiếu sót nữa là một số từ dùng để chỉ hai nghi can chưa phù hợp, như "hung thủ", "chúng", "bọn chúng". Nên thay “hung thủ” bằng “nghi can”, “nghi phạm” hoặc “bị can” (sau khi khởi tố); và cũng nên thay “chúng” bằng “họ”…..”

Qua đoạn trích, các bạn có thể thấy rằng những phát ngôn, cũng như cách đưa tin của giới truyền thông đã vô tình đã làm thay thẩm quyền của Tòa án. Đây là một vụ án đặc biệt nghiêm trọng nên việc thông tin bắt được nghi phạm sau đó truy tố vụ án hình sự một cách nhanh chóng không chỉ chứng minh khả năng phá án của cơ quan điều tra mà còn làm ổn định dư luận, tránh gây hoang mang mất ổn định trong đời sống người dân, và ngoài ra còn góp phần răn đe giáo dục phòng ngừa tội phạm chung. Chính vì vậy, theo quan điểm của tôi, thì việc công bố thông tin về quá trình giải quyết vụ án nếu không thuộc các trường hợp liên quan đến danh dự, nhân phẩm của người bị hại như hiếp dâm, dâm ô… hoặc không thuộc các vụ án liên quan đến bí mật an ninh quốc gia thì cơ quan điều tra có quyền thông tin đến các cơ quan truyền thông. Bởi lẽ như vậy sẽ giúp người dân an tâm và góp phần thực hiện quyền giám sát của người dân cũng như giúp đỡ cơ quan điều tra qua việc cung cấp tin báo. 

Nhưng, việc công bố thông tin phải tuân thủ theo quy định của pháp luật và trong đoạn trích tôi đề cập ở trên người viết đã phân tích khá rõ những thiếu sót mà theo tôi là mang tính nghiêm trọng về thẩm quyền và gây dư luận không tốt về một số người khi người đó chưa bị coi là có tội.

Có hai người bị kiện trong cùng một vụ án hành chính?

Tình huống: “Ủy ban nhân dân huyện A ban hành Quyết định hành chính số 01/QĐ-UBND đối với ông Nguyễn Văn B, không đồng ý với Quyết định hành chính trên ông Nguyễn Văn B khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A. Sau khi thụ lý giải quyết khiếu nại, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 02/QĐ-GQKN với nội dung hủy bỏ một phần Quyết định số 01/QĐ-UBND.

Không đồng ý với cả hai quyết định nêu trên, ông Nguyễn Văn B khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện A với yêu cầu hủy bỏ hai quyết định trên.

Xác định người bị kiện trong trường hợp này?”
 
Thứ nhất, theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính, được hướng dẫn thi hành tại Điều 2 Nghị quyết 02/NQ-HĐTP thì người bị kiện của Quyết định hành chính số 01/QĐ-UBND là Ủy ban nhân dân huyện A; còn người bị kiện của Quyết định giải quyết khiếu nại số 02/QĐ-GQKN là Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A. Như vậy, có hai quyết định liên quan trực tiếp đến nhau, nhưng thẩm quyền ban hành lại là hai chủ thể khác nhau. Không thể áp dụng điều 33 Luật Tố tụng hành chính cũng như Điều 7 Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP để tách vụ án trong trường hợp này vì các quyết định hành chính chỉ liên quan đến một người khởi kiện và quyền lợi của người khởi kiện trong các quyết định hành chính trên là đồng nhất.

Thứ hai, quyết định giải quyết khiếu nại số 02/QĐ-GQKN chỉ hủy bỏ một phần quyết định hành chính ban đầu (Quyết định số 01/QĐ-UBND) chứ không hủy bỏ hay thay thế toàn bộ nên phần còn lại của quyết định hành chính ban đầu vẫn có hiệu lực. Tuy nhiên, cần phải xem xét tới tính quyền lực của hai quyết định nêu trên, quyết định giải quyết khiếu nại có thể hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính nếu trong quá trình giải quyết khiếu nại xét thấy có dấu hiệu vi phạm pháp luật về quy trình hay nội dung ban hành. Như vậy, mặc dù theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thì Ủy ban nhân dân có thẩm quyền lớn hơn Chủ tịch Ủy ban nhân dân nhưng nếu xem xét dưới góc độ của Luật Khiếu nại thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân có thể điều chỉnh hoặc thậm chí là hủy bỏ một quyết định hành chính được ban hành bởi Ủy ban nhân dân, nói cách khác các quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Luật Khiếu nại theo hướng quy trách nhiệm về cho người đứng đầu, chính vì vậy trong trường hợp này Chủ tịch là người có quyền “cao” hơn Ủy ban nhân dân.

Thứ ba, mặc dù quyết định giải quyết khiếu nại chỉ hủy bỏ một phần quyết định hành chính ban đầu, các nội dung khác vẫn có hiệu lực nhưng trong quá trình giải quyết khiếu nại Chủ tịch Ủy ban nhân dân đã rà soát toàn bộ quyết định hành chính từ quy trình đến nội dung, chính vì vậy mặc dù phần còn lại không bị hủy bỏ, thay thế hay bổ sung bởi quyết định giải quyết khiếu nại nhưng nó đã được đề cập và bao quát bởi quyết định giải quyết khiếu nại. Chính vì vậy, nếu quyết định giải quyết khiếu nại bị hủy bỏ thì đồng nghĩa với việc phần quyết định hành chính ban đầu được công nhận bởi quyết định giải quyết khiếu nại phải bị hủy bỏ.

Từ những lập luận nêu trên, tôi cho rằng trong trường hợp này đối tượng khởi kiện là quyết định giải quyết khiếu nại chứ không phải là quyết định hành chính ban đầu.

Một tình huống khác, trong quá trình khởi kiện Quyết định hành chính số 01/QĐ-UBND, ông Nguyễn Văn B phát hiện ra rằng bà Nguyễn Thị C đã từng khiếu nại quyết định hành chính trên và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại theo đó hủy bỏ một phần Quyết định hành chính số 01/QĐ-UBND nên ông Nguyễn Văn B bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện A phải hủy bỏ luôn quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A đối với Quyết định số 01/QĐ-UBND của bà Nguyễn Thị C.

Theo tôi trong trường hợp này, Tòa án nhân dân huyện A phải đình chỉ vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B đối với Quyết định hành chính ố 01/QĐ-UBND đồng thời hướng dẫn ông Nguyễn Văn B khởi kiện đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A đối với bà Nguyễn Thị C.

Câu chuyện về lãi suất và mức lãi suất nào là hợp lý trong hợp đồng cho vay tài sản?


       Cách đây khá lâu, tôi từng suy nghĩ rất nhiều về câu chuyện lãi suất trong các hợp đồng cho vay tài sản trong các giao dịch dân sự giữa các cá nhân với nhau. Tôi cũng đã rất ngạc nhiên khi biết rằng nếu trong hợp đồng vay tài sản mà các bên thỏa thuận lãi suất vượt quá mức quy định nếu có tranh chấp Tòa án sẽ đưa về mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố, tôi nghĩ điều đó không đúng cho đến khi tôi nghiên cứu lại khoản 2 Điều 476 Bộ luật dân sự:

Viện dẫn lại quy định trên:
Điều 476. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.
2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.
      Khi các bên thỏa thuận về lãi suất trong hợp đồng cho vay tài sản thì thỏa thuận đó sẽ có hai phần, một là hợp đồng có lãi suất và hai là mức lãi suất, nếu việc thỏa thuận mức lãi suất cao hơn quy định tại khoản 1 (150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố) thì thỏa thuận này bị vô hiệu do vi phạm quy định của pháp luật, nhưng thỏa thuận về việc hợp đồng cho vay có lãi suất vẫn có hiệu lực do đó khoản 2 Điều 476 sẽ phát huy tác dụng đó là có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và lãi suất được áp dụng trong trường hợp này là mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố.

       Như vậy, việc đưa lãi suất về mức quy định là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật và qua bài viết này tôi xin trình bày một vài quan điểm cá nhân về vấn đề này,

       Trước hết, tôi mời các bạn thực hiện một "chuyến du lịch" xuyên thời gian và không gian đến bang Florida của Mỹ vào năm 2004, khi siêu bão Charley quét từ vịnh Mexico qua Florida đến Đại Tây Dương. Cơn bão không chỉ làm 22 người cheets và tổn thất 11 tỷ USD mà còn gây ra một cuộc tranh luận về giá cắt cổ (Justice, what's the right thing to do - Micheal Sandel) 

        Giá cả tất cả các mặt hàng đến dịch vụ đều tăng chóng mặt từ vài lần đến hàng chục lần giá bình thường, và người dân đã rất giận dữ vì việc này, người ta coi đây là hành động kiếm tiền trên sự tuyệt vọng của người khác.

        Nhưng những người buôn bán họ không coi việc nâng giá là vi phạm đạo đức bởi lẽ họ không ép buộc người dân phải mua sản phẩm và sử dụng dịch vụ của họ, giao dịch dân sự được ra hoàn toàn dựa trên sự tự do thỏa thuận và giá cả được hình thành dựa trên nguyên tắc cung - cầu của thị trường tự do. Thực tế, những người sở hữu hàng hóa cũng không biết khi nào thì cơn bão mới qua đi và các mặt hàng nhu yếu phẩm sẽ được vận chuyển bình thường trở lại do vậy việc họ bán đi nguồn hàng dự trữ của mình cho người khác cũng là giảm bớt đi một phần cái mà họ cũng cần trong điều kiện bão và họ cũng cho rằng với giá cao như thế có thể tạo ra một sự thu hút đối với những nhà cung cấp sản phẩm nhằm thúc đẩy họ cung cấp thêm sản phẩm đến Florida.

      Cuối cùng thì câu hỏi đặt ra là "Giao dịch trên có thực sự được thực hiện trên tinh thần tự nguyện và tự do thỏa thuận" hay không khi mà cả bên mua và bên bán đều không thể có được những thông tin cần thiết về sự thay đổi trong tương lai?

        Quay lại câu chuyện về lãi suất của chúng ta, lý do khiến hợp đồng vay tài sản giữa các cá nhân trong đời sống xã hội phát triển mạnh là vì tồn tại nhu cầu vay tiền mà họ không thể đáp ứng được các quy định của Ngân hàng về tài sản thế chấp, hay có nguồn thu nhập ổn định để vay tín chấp... Và trong tình trạng bí bách về mặt tài chính khiến họ chấp nhận trả một mức lãi suất "trên trời" để có tiền phục vụ cho nhu cầu nào đó có tính cấp bách.

        Chúng ta có thể thấy rằng bên vay gặp bí bách về mặt tài chính và không thể thực hiện việc vay vốn tại Ngân hàng thương mại vì nhiều lý do, còn bên cho vay phải chấp nhận rũi ro không thể thu hồi lại số tiền mình đã cho vay. Chính vì vậy việc thỏa thuận lãi suất cao hơn quy định là điều mà bên cho vay xem đó như là chi phí "bảo hiểm" đối với rũi ro mình sẽ gặp phải.

        Nhưng thực tế nhiều người đã áp dụng một mức lãi suất mà ta hay gọi là "cắt cổ" để kiếm tiền trên sự bí bách tài chính của người khác, điều này liệu có phù hợp về mặt đạo đức? Và mức lãi suất nào là hợp lý cho việc họ đánh đổi sự mạo hiểm đối với tài sản của mình cho những cá nhân không đủ điều kiện vay vốn tại ngân hàng?
Trước hết ta tìm hiểu về cái gọi là "Chi phí cơ hội" trong kinh tế học:

Chi phí cơ hội của một lựa chọn thay thế được định nghĩa như chi phí do đã không lựa chọn cái thay thế "tốt nhất kế tiếp".
Chi phí cơ hội là một khái niệm hữu ích được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn. Nó được vận dụng rất thường xuyên và rộng rãi trong đời sống kinh tế. Chi phí cơ hội dựa trên cơ sở là nguồn lực khan hiếm nên buộc chúng ta phải thực hiện sự lựa chọn. Lựa chọn tức là thực hiện sự đánh đổi, tức là để nhận được một lợi ích nào đó buộc chúng ta phải đánh đổi hoặc bỏ qua một chi phí nhất định cho nó. Như vậy, chi phí cơ hội của một phương án được lựa chọn là giá trị của phương án tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện sự lựa chọn đó (và là những lợi ích mất đi khi chọn phương án này mà không chọn phương án khác; Phương án được chọn khác có thể tốt hơn phương án đã chọn).
       Bên cho vay đã chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho bên vay, họ đã mất đi cơ hội tìm kiếm lợi nhuận từ tài sản đã cho vay chính vì vậy lãi suất là khoản bù đắp cho chi phí cơ hội đó. Nhưng tại sao lại phải căn cứ vào lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước công bố?

       Tôi không bàn luận đến khí cạnh "mức lãi suất cơ bản nào là hợp lý" vì vấn đề này là của các chuyên gia tài chính chứ không phải của tôi. Cái tôi cần ở lãi suất cơ bản này là "tổn thất nhìn thấy được" nghĩa là khi tôi cho bạn vay tài sản của tôi thì cả bên vay và bên cho vay đều thấy được rằng bên cho vay đã mất đi số tiền mà bên cho vay có thể có được khi gửi tài sản (tiền, vàng...) vào ngân hàng và hưởng lãi suất theo quy định.

         Và để tôi (bên cho vay) không lựa chọn Ngân hàng để gửi tiền mà cho bạn (bên vay) vay tài sản của mình chính là mức lãi suất phải cao hơn và đủ hấp dẫn để tôi mạo hiểm đầu tư tài sản của mình vào hợp đồng cho vay tài sản với bạn chứ không phải là hợp đồng gửi tiền vào ngân hàng.

       Vậy, theo tôi có hai giá trị trong lãi suất của hợp đồng vay tài sản đó là chi phí cơ hội của bên cho vay và chi phí bảo hiểm cho tài sản có thu hồi được hay không từ bên vay tài sản. Vấn đề nằm ở chổ "bao nhiêu thì hợp lý"?

        Tôi không biết các nhà làm luật quy định mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên (khoản 1 Điều 163 Bộ luật hình sự quy định về tội cho vay nặng lãi) là dựa trên cơ sở lý luận nào và cũng không hiểu tại sao lại tồn tại một khoảng cách quá xa giữa lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự 1,5 lần và mức lãi suất vi phạm quy định của Bộ luật hình sự là 10 lần!? 

        Chính vì sự hạn chế trong hiểu biết như vậy nên tôi không thể trả lời nổi câu hỏi "bao nhiêu là hợp lý" mà tôi đã đặt ra ở trên.

Quyền được chết - Nên hay không nên?

Hình minh họa. Nguồn: Báo Đất Việt

Liên quan đến việc ông Nguyễn Huy Quang – Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Y tế - đề xuất nên đưa “Quyền được chết” vào Bộ luật Dân sự, tôi cũng muốn viết vài dòng về vấn đề này nhưng qua các bài báo phản biện của phó giáo sư Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) – bài viết tạiđây - và các ý kiến của các Luật sư – bài viết tại đây – tôi cảm thấy mình không  còn ý gì nữa để trình bày. 

Bài viết này tôi sẽ trích đăng lại một đoạn trong cuốn sách “Phải trái – Đúng sai” dịch lại theo cuốn “Justice, what’s the right thing to do” của Giáo sư Michael Sandel. Đoạn trích là phần diễn giãi của Giáo sư về quan điểm của Immanuel Kant về về vấn đề tự tử và giết người:

Theo Kant: “Tôi cho rằng con người, và nói chung tất cả sinh vật có lý trí, tồn tại như một mục đích tự thân, không chỉ đơn thuần là phương tiện để ý chí này hay ý chí kia tùy tiện sử dụng”. Kant nhắc chúng ta, đây là sự khác biệt căn bản giữa người và vật. Người là sinh vật có lý trí. Người không chỉ có giá trị tương đối, người có một giá trị tuyệt đối, một giá trị nội tại. Đó là các sinh vật lý trí có phẩm giá.
 
Dòng lý luận này của Kant dẫn đến công thức thứ hai của mệnh lệnh tuyệt đối “Hành động theo cách luôn coi nhân loại, cho dù chính bạn hay người khác, như là mục đích, chứ đừng bao giờ chỉ là phương tiện để đạt mục đích”. Đây là công thức coi nhân loại như mục đích.
    ….
Bây giờ xem xét trường hợp tự tử. Điều thú vị cần ghi nhận là cả giết người và tự tử đều trái với mệnh lệnh tuyệt đối với cùng một lý do. Chúng ta thường nghĩ giết người và tự tử là các hành vi rất khác nhau về mặt đạo đức. Giết người là lấy đi sinh mạng của ai đó, trái ngược với ý chí củ người đó trong khi tự tử là sự lựa chọn của người muốn chết. Nhưng quan niệm của Kant – xem nhân loại như mục đích – coi giết người và tự tử là như nhau. Nếu giết người, tôi lấy đi mạng sống một ai đó vì lợi ích của chính tôi – cướp ngân hàng, cũng cố quyền lực chính trị củ tôi hoặc làm cho tôi hết tức giận. Tôi sử dụng những nạn nhân như phương tiện và không tôn trọng con người đó như mục đích. Đấy là lý do tại sao giết người vi phạm mệnh lệnh tuyệt đối.
 
Với Kant, tự tử vi phạm mệnh lệnh tuyệt đối hệt như giết người. Nếu tôi kết thúc cuộc sống của tôi để thoát khỏi những đau đớn, tôi sử dụng bản thân mình như phương tiện để giảm nỗi khổ của chính mình. Tuy Nhiên, như Kant nhắc nhở chúng ta, người không phải là đồ vật, “không phải thứ gì đó chỉ để được sử dụng như phương tiện”. Tôi không có quyền tước đoạt đi mạng sống của chính bản thân tôi hay của người khác. Đối với kant, tự tử và giết người là sai cùng một lý do. Cả hai đều xem người là đồ vật và không tôn trọng con người như mục đích tự thân.

Tự sát đưa ra một đặc tính của điều Kant nói là nghĩa vụ tôn trọng đồng loại của con người. Đối với Kant, tự trọng và tôn trọng người khác đến từ cùng một nguyên tắc. Chúng ta ai cũng có nghĩa vụ tôn trọng này, do con người có lý trí, là sinh vật mang nhân tính. Điều này không có quan hệ gì với việc người đó là ai!?
 
Có một sự khác biệt giữa tôn trọng và các dạng tình cảm khác của con người. Tình yêu, sự cảm thông, tình đoàn kết, và đồng là các tình cảm kéo chúng ta đến gần một số người hơn những người khác. Nhưng lý do chúng ta phải tôn trọng phẩm giá loài người không liên quan gì đến tất cả những tình cảm trên. Tôn trọng kiểu Kant không giống tình yêu, sự cảm thông, tình đoàn kết hay sự đồng cảm. Sự quan tâm tới người khác vì những tình cảm liên quan đến một con người cụ thể nào đó. Chúng ta yêu thương bạn đời và các thành viên trong gia đình mình. Chúng ta cảm thông với những người mình quan biết. Chúng ta đoàn kết với bạn bè và đồng chí của mình.
 
Nhưng tôn trọng kiểu Kant là tôn trọng nhân loại nói chung, vì khả năng lý trí giống hệt nhau bên trong tất cả con người. Điều này giải thích tại sao vi phạm với chính tôi cũng đáng bị phản đối như vi phạm với người khác. Nó cũng giải thích tại sao các nguyên tắc tôn trọng kiểu Kant thích hợp với các học thuyết vì con người. Với Kant, công lý đòi hỏi chúng ta bảo vệ quyền con người của tất cả mọi người, bất kể họ sống ở đâu hay mức động chúng ta quen beiets họ, đơn giản chỉ vì họ là con người, có lý trí, và vì thế đáng được tôn trọng.
 
(Trong tác phẩm của mình, Giáo sư Michael Sandel cũng giải thích rằng “Triết học của Kant khó hiểu, nhưng đừng vì thế mà sợ. Nỗ lực để hiểu thật đáng giá, vì điều thu được rất lớn” và quả thật đoạn trích trên tôi đã phải đọc hơn 10 lần nhưng quả thật không hiểu vì trình độ của bản thân quá thấp kém hay việc phiên dịch chưa sát dẫn đến có chút lệch nghĩa so với ban đầu mà đến tận bây giờ tôi vẫn chưa “thấm” được hết).

Về vấn đề nên hay không nên đưa “Quyền được chết” vào Bộ luật Dân sự thì tôi không thể hiện chính kiến ở bài viết này. Cái mà nhà làm luật cần nhìn nhận đó là cơ sở hạ tầng và nền tảng đạo đức của xã hội chúng ta đã đủ và cần thiết để đưa quyền trên vào luật hay chưa? Và nếu quyền được chết được đưa vào thì hướng dẫn thi hành sẽ như thế nào? Khi mà còn quá nhiều bất cập trong xã hội chưa giải quyết hết được.

Bất kỳ hiện tượng xã hội nào đều có tính hai mặt của nó, nên khi tác động vào thì điều cần là hạn chế “mặt xấu” và phát huy “mặt tốt” (tôi dùng dấu “…” vì ngay cả các tính từ này cũng có tính tương đối và nó phụ thuộc vào không gian, thời gian lúc được dùng). Để làm được điều này, nhà làm luật cần phải nắm chắc mục đích đưa vào là gì? Và làm sao để quy định đó không trở thành công cụ phục vụ cho lợi ích của kẻ khác, nghĩa là mối quan hệ nhân quả ràng buộc giữa mục đích và áp dụng quy định.

TED Talks: “Án tử hình – Chúng ta lấy quyền gì để tước đoạt mạng sống người khác?”





“Án tử hình ở Mỹ luôn có dấu hiệu oan sai. Cứ mỗi 9 người nhận án tử thì có một người được giải oan và phóng thích. Một trên chín – đó quả thật là một tỷ lệ sai sót rất đáng kinh ngạc. Trong khi đó, sẽ không đời nào chúng ta dám bước lên máy bay nếu cứ mỗi 9 chiếc cất cánh lại có một chiếc bị rơi. Dẫu vậy, bằng cách nào đó chúng ta vẫn tách mình khỏi thực tế này. Đó không phải là vấn đề của chúng ta, càng không phải gánh nặng để lao tâm khổ tứ” – luật sư Bryan Stevenson đã nói như vậy trong một trong những chương trình TED Talks được yêu thích nhất hồi năm 2012.
25 năm về trước, tại Montgomery (Alabama), từ một căn hộ nhỏ phía sau một xưởng sản xuất lốp xe, Bryan Stevenson đã thành lập nên Equal Justice Initiative (EJI) – tổ chức phi lợi nhuận trợ giúp pháp lý cho những người nghèo rơi vào vòng lao lý và các tù nhân bị đối xử bất công. Sau khi tốt nghiệp trường luật Harvard, Stevenson không vào các hãng luật trên phố Wall mặc cho những lời mời chào hấp dẫn mà chọn trở về bang Alabama làm luật sư miễn phí cho thân chủ là các tử tù. Ban đầu chỉ với một phụ tá giúp việc, đến nay văn phòng của EJI đã có 40 nhân viên gồm 20 luật sư làm việc toàn thời gian cùng một số thực tập sinh và sinh viên tốt nghiệp từ trường luật Đại học New York, nơi Stevenson giảng dạy.
Cho đến nay, EJI đã giúp tổng cộng 115 người thoát án tử hình. Tổ chức của vị luật sư 55 tuổi này cũng đã kháng cáo thành công lên Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ nhằm bãi bỏ mức phạt chung thân không được ân xá áp dụng cho trẻ vị thành niên dưới 13 tuổi và việc giam giữ chúng trong các nhà tù dành cho người lớn. Đầu tháng Tư vừa qua, Stevenson đã giúp Anthony Ray Hinton – tử tù ngồi tù oan suốt 28 năm – được phóng thích sau hơn 12 năm kiên trì theo đuổi vụ án.
Vì những đóng góp và nỗ lực của Bryan Stevenson, vị Tổng giám mục Nam Phi Desmond Tutu, người nhận giải Nobel Hòa Bình vào năm 1984 cho cống hiến của ông trong cuộc đấu tranh chống lại nạn Apartheid, đã gọi Stevenson là “Nelson Mandel của nước Mỹ”.
Cho đến nay, Bryan Stevenson vẫn độc thân và không có con cái. Ông không tính phí đối với các thân chủ kém may mắn của mình; văn phòng của ông hoạt động dựa trên các nguồn quỹ hỗ trợ và đóng góp từ cộng đồng. Stevenson nói cuộc sống hiện tại khác hoàn toàn những gì ông đã tưởng tượng hồi còn ở trường luật. Nhưng vị cựu sinh viên Harvard không nghĩ mình đang hi sinh gì cả. Stevenson nói: “Tất nhiên có những chọn lựa khác mang đến nhiều tiền và cuộc sống sung túc hơn. Nhưng tôi không chọn cách đó. Tôi thấy mình đang giàu có bằng những cách rất riêng và sẽ không đánh đổi nó cho dù là hàng triệu đô ở nhà băng.”
Năm 2012 khi giam gia chương trình TED Talk, sau khi Stevenson kết thúc phần trình bày của mình, tất cả khán giả trong hội trường đã đồng loạt đứng lên vỗ tay. Theo ghi nhận, bài diễn thuyết của ông còn có kỷ lục nhận được tràng vỗ tay lâu nhất trong lịch sử chương trình.

Án tử hình – Chúng ta lấy quyền gì để tước đoạt mạng sống người khác?

Tôi đã luôn có điều muốn nói về nền tư pháp hình sự hiện tại của chúng ta. Bối cảnh bây giờ đã khác nhiều so với 40 năm trước đây. Năm 1972, có 300 ngàn phạm nhân trong các trại tù trên khắp cả nước. Ngày nay, con số này đã tăng lên 2.3 triệu. Nước Mỹ hiện đang có tỷ lệ phạt tù cao nhất thế giới. Chúng ta còn có 7 triệu người đang tại ngoại thuộc diện cải tạo không giam giữ hoặc được đặc xá.

Theo quan sát của tôi, việc phạt tù trên diện rộng đã làm cho xã hội chúng ta thay đổi tận cốt lõi. Trong những cộng đồng dân cư nghèo, cộng đồng của những người da màu, một cảm giác tuyệt vọng và bế tắc, vốn là hệ quả của tình trạng trên, đang vây lấy những con người ở đây. Cứ mỗi ba nam thanh niên da màu tuổi từ 18 đến 30, có một người lại đi tù, đang trong diện quản chế hoặc được cho về trước hạn tù. Còn ở những khu vực thành thị dọc ngang đất nước như Los Angeles, Philadelphia, Baltimore hay Washington, tỷ lệ thanh niên da màu rơi vào vòng lao lý cũng lên đến 50 đến 60 phần trăm.

Hệ thống của chúng ta không chỉ được thiết kế nên với những lỗ hổng làm biến dạng nền tư pháp vì lý do chủng tộc, mà chúng còn liên quan đến khoảng cách giàu nghèo. Chúng ta hiện có một hệ thống tư pháp đang đối đãi tốt với những người có tội nhưng có tiền, và tệ với những ai ít tiền nhưng vô tội. Tài lực, chứ không phải trách nhiệm pháp lý, mới là thứ quyết định kết quả. Nhưng mặc cho thực tế này, chúng ta vẫn cảm thấy rất thoải mái với nó. Văn hóa chính trị cảm tính do nỗi sợ hãi và sự thù hằn dẫn dắt đã khiến chúng ta tin rằng đó không phải là vấn đề của mình. Chúng ta đã tự mình tách rời khỏi thực trạng.

Như một số tiểu bang khác, bang Alabama nơi tôi sống sẽ tước vĩnh viễn quyền đi bầu của bạn nếu bạn đã từng bị kết án hình sự. Hiện tại, 34 phần trăm đàn ông da màu ở Alabama đã vĩnh viễn mất quyền bỏ phiếu của mình. Chúng tôi dự đoán trong vòng 10 năm nữa số lượng người bị tước quyền đi bầu sẽ vẫn ở mức cao kể từ khi Đạo luật Bầu cử được thông qua. Nhưng mặc cho thực tế này, mọi thứ chỉ là một sự im lặng đến hoang mang.

Tôi là luật sư bảo vệ quyền lợi cho trẻ vị thành niên. Nhiều thân chủ của tôi có tuổi đời còn rất trẻ. Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất trên thế giới áp dụng mức án chung thân cho một đứa trẻ 13 tuổi. Ở đất nước này, chúng ta có án chung thân không được ân xá dành cho những đứa trẻ. Thậm chí chúng ta còn truy tố ra tòa những đứa trẻ nữa. Quốc gia duy nhất trên thế giới.

Thân chủ của tôi còn là những tử tù. Tôi cho rằng những tranh cãi xung quanh vấn đề án tử hình rất thú vị. Từ trước đến nay, chúng ta đã được định hướng để nghĩ câu hỏi cần phải xem xét là: một người có đáng phải chết vì tội họ đã gây ra hay không? Hẳn nhiên đó là một câu hỏi rất hợp lý. Nhưng vẫn còn một cách suy nghĩ khác xuất phát từ việc chúng ta là ai trong tư cách con người. Thay vì hỏi có đáng để một người phạm tội nhận lãnh cái chết hay không, điều mà chúng ta cần suy nghĩ là: chúng ta lấy quyền gì để tước đoạt mạng sống người khác?

Án tử hình ở Mỹ luôn có dấu vết của oan sai. Cứ mỗi 9 người nhận án tử thì có một người được giải oan và phóng thích. Một trên chín – đó quả thật là một tỷ lệ sai sót rất đáng kinh ngạc. Trong khi đó, sẽ không đời nào chúng ta dám bước lên máy bay nếu cứ mỗi 9 chiếc cất cánh lại có một chiếc bị rơi. Dẫu vậy, bằng cách nào đó chúng ta vẫn tách mình khỏi thực tế này. Đó không phải là vấn đề của chúng ta, càng không phải gánh nặng để lao tâm khổ tứ.

Một dạo tôi có dịp được làm diễn giả tại một hội thảo về án tử hình ở Đức. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ khi một trong những học giả ở đó đã chia sẻ sau phần trình bày của tôi: “Anh biết đấy, tôi đã thấy rất buồn trong lúc nghe anh nói. Ở Đức chúng tôi không còn án tử hình. Và tất nhiên chúng tôi sẽ không bao giờ đưa vào áp dụng lại hình phạt ấy”. Không khí khán phòng chợt chùng xuống, thế rồi một người phụ nữ đứng lên nói: “Với quá khứ vẫn còn ám ảnh, chúng tôi không thể nào lặp lại việc giết người hàng loạt như trước đây. Sẽ rất vô lương tâm nếu hành động đó vẫn được duy trì, cho dù là với mục đích khác”. Câu nói của bà đã cho tôi nhiều suy nghĩ. Sẽ ra sao nếu nước Đức vẫn còn giữ án tử hình, và phần đông trong số những người bị hành quyết là người Do Thái? Đó là một viễn cảnh mà lương tri chúng ta không thể chịu được.
Tuy vậy, ngay trên đất nước này, ở những bang miền Nam lâu đời, những người tù bị kết tội vẫn đối mặt với án tử hình. Ở các bang này, nếu nạn nhân là người da trắng, khả năng người phạm tội phải nhận án tử cao gấp 11 lần so với khi nạn nhân là một người da màu, và cao gấp 22 lần nếu bị cáo là người da màu còn nạn nhân là da trắng. Đây cũng là những bang mà dưới lòng đất người ta tìm thấy thi thể những người da đen từng bị hành quyết. Dẫu vậy, chúng ta vẫn cảm thấy không liên quan.

Còn có một thực tế khác đang tồn tại ở đất nước chúng ta. Chúng ta không muốn nói về những bất cập đang hiện hữu. Chúng ta cũng không muốn nhắc lại lịch sử. Chính vì vậy, chúng ta không thật sự hiểu những gì đã xảy ra trong quá khứ, để rồi không thấy rằng chúng đang lặp lại ở hiện tại. Chúng ta vẫn luôn đối đầu nhau, vẫn luôn tạo ra những mâu thuẫn và xung đột. Chúng ta thấy thật khó để nói khi động đến chủ đề chủng tộc. Tôi tin sở dĩ như vậy là bởi chúng ta chưa sẵn lòng bước vào tiến trình hòa giải và chấp nhận sự thật. Ở Nam Phi, người ta biết sẽ không thể chấm dứt nạn kỳ thị chủng tộc (apartheid) nếu không thật sự bắt đầu tiến trình hòa giải và nhìn nhận thực tế. Ở Rwanda, ngay khi cả đất nước phải trải qua nạn diệt chủng, họ cũng đã làm việc tương tự. Nhưng ở đất nước này, chúng ta vẫn chưa làm điều đó.

Khi còn là một anh chàng luật sư mới vào nghề, tôi đã có vinh dự được gặp Rosa Parks. Bà vẫn thường lui tới Montgomery. Mỗi lần như vậy, bà đi cùng hai người bạn thân của mình là Johnnie Carr, người đứng sau phong trào tẩy chay xe buýt ở Montgomery – một phụ nữ Mỹ gốc Phi rất đỗi tuyệt vời – và Virginia Durr, người có chồng là Clifford Durr, luật sư đại diện cho tiến sĩ Martin Luther King. Ba người bọn họ thường tụ lại chuyện trò mỗi lần gặp nhau.

Thi thoảng cô Carr lại gọi cho tôi và bảo: “Bryan này, cô Parks sắp đến chơi đấy. Bọn cô đã hẹn nhau rồi. Cháu có muốn đến chỗ bọn cô không?” Tôi nói: “Dạ vâng, cháu muốn ạ”. Thế rồi bà hỏi: “Vậy thì cháu định làm gì khi đến đây?” Tôi trả lời: “Cháu sẽ nghe các cô nói chuyện”. Và tôi đã đến chỗ họ để lắng nghe những chủ đề đã truyền cảm hứng và động lực cho tôi.

Một lần nọ, tôi đến nghe ba người họ nói chuyện. Vài tiếng sau, cô Parks quay sang tôi nói: “Bryan này, bây giờ cháu kể về tổ chức Equal Justice Initiative của cháu đi. Cho cô biết cháu đang làm gì nào”. Và thế là tôi bắt đầu bài diễn thuyết của mình không ngừng nghỉ.

“Dạ thưa, bọn cháu đang cố thách thức sự bất công. Bọn cháu đang giúp đỡ những người đã bị kết án oan sai. Bọn cháu cố gắng đối diện với nạn kì thị và phân biệt đối xử đang diễn ra trong hệ thống tư pháp và hành chính. Bọn cháu mong muốn sẽ chấm dứt việc kết án chung thân không được ân xá đối với trẻ em, và cả án tử hình nữa. Bọn cháu cũng đang cố làm giảm xuống số người bị đi tù, vì bọn cháu muốn chấm dứt tình trạng kết án tù ồ ạt”.

Khi tôi kết thúc, bà ấy đã nhìn tôi rồi nói: “Mmm mmm mmm, cháu sẽ phải vất vả lắm đấy”. Lúc ấy cô Carr cũng tham gia vào, bà khẽ chạm má tôi và bảo: “Vì thế nên cháu phải thật kiên cường đấy nhé!”

Và tôi nghĩ tất cả chúng ta đều cần cái dũng khí đó. Chúng ta cần tìm ra cách để đối diện với những thách thức và khó khăn đang gây nên đau khổ cho đồng loại. Bởi lẽ xét cho cùng, loài người chúng ta đều phụ thuộc lẫn nhau, vào mỗi cá thể trong một tập thể. Khi làm công việc của mình, có những điều rất đơn giản mà tôi đã học được. Tôi nghiệm ra mọi người trên hành tinh này, cho dù đã làm chuyện tồi tệ đến cỡ nào, đều không chỉ được định nghĩa bởi duy nhất điều đó. Tôi tin nó đúng với tất cả chúng ta. Nếu một người nói dối bạn, cô ta không chỉ được định nghĩa là một kẻ dối trá. Nếu một người lấy đi thứ không phải tài sản của họ, anh ta không chỉ là một tên trộm. Và thậm chí nếu đã cướp đi sinh mạng ai đó, bạn cũng không chỉ là một hung thủ giết người. Chính bởi vì mỗi người chúng ta đều có một nhân phẩm, và nó cần được pháp luật tôn trọng.

Tôi tin rằng dẫu có hào nhoáng, hấp dẫn, đẹp đẽ, sáng tạo hay tiến bộ đến đâu, cuối cùng thì công nghệ, sự phát triển hay hàm lượng tri thức không phải là tiêu chí chung cuộc để đánh giá một xã hội. Chúng ta đánh giá phẩm chất một xã hội không phải trên cách mà nó đối đãi với người giàu, người có thế lực và có đặc quyền, mà dựa trên cách những người nghèo, người bị kết tội và người tù được đối xử ra sao. Chỉ khi đó chúng ta mới bắt đầu có cái nhìn sâu sắc về xã hội của chúng ta.

Triết lý đạo đức thì có rất nhiều, nhưng lịch sử nhân loại cho thấy điểm chung nằm ở niềm tin vào công lý. Chúng ta không thể trở thành một con người hoàn chỉnh chừng nào chúng ta vẫn chưa quan tâm đến nhân quyền và nhân phẩm của mình và người khác. Bởi sự tồn tại của tất cả chúng ta gắn chặt với sự tồn tại của từng cá nhân. Tôi tin các bạn ở đây đều hiểu điều đó, vì vậy hôm nay đến với TED, tôi muốn nói với các bạn rằng, hãy tiếp tục kiên cường cho đến khi chúng ta đạt được mục tiêu.

Xin cảm ơn rất nhiều.


NGUỒN: Internet

Thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩ vụ nên là thỏa thuận không hợp pháp

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án Tòa án NDTC

Trong tố tụng dân sự quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận, định đoạt là một quyền rất quan trọng của đương sự. Nếu trong quá trình giải quyết vụ việc, Thẩm phán không bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền này sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Tuy nhiên, quyền tự thỏa thuận, định đoạt của đương sự không phải là một quyền tuyệt đối. Sự thỏa thuận, định đoạt của đương sự chỉ hợp pháp khi nó không xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, của cá nhân, tổ chức khác, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ. Do không nhận thức rõ vấn đề này nên có nhiều trường hợp các đương sự thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ vẫn được Tòa án công nhận. Dưới đây là một ví dụ:

Vụ án “chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân” giữa nguyên đơn là anh Ngô Văn Hợi (sinh năm 1973) và bị đơn là chị Lê Thị Thúy ( sinh năm 1977) cùng trú tại: Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: chị Đào Thị Loan, anh Mã Hùng Vinh, chị Dương Thị Hạnh, anh Đỗ Văn Thắm, chị Nguyễn Thị Linh, chị Hồ Tuyết Nhung.

Tóm tắt nội dung vụ án:
Anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy kết hôn năm 1996. Trong quá trình chung sống anh Hợi và chị Thúy không có yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, do chị Thúy có nghĩa vụ trả tiền đối với các chị Trần Thị Lợi, Quảng Thị Thái theo các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2011/QĐST-DS và 47/2011/QĐST-DS cùng ngày 6/9/2011 của TAND thành phố KT (theo các quyết định này thì chị Thúy phải trả cho chị Trần Thị Lợi số tiền gốc và lãi là 60.600.000 đồng cùng 05 chỉ vàng SJC; trả cho chị Quảng Thị Thái tiền gốc và lãi là 59.150.000 đồng; tất cả trả một lần vào ngày 30/9/2011) nên Chi cục thi hành án dân sự thành phố KT có Thông báo số 56/TB-CCTHA ngày 01/3/2012 về việc hướng dẫn chia tài sản chung giữa chị Thúy và anh Hợi. Do đó, ngày 12/3/2012, anh Hợi khởi kiện ra TAND thành phố KT yêu cầu chia tài sản chung của anh Hợi và chị Thúy.

Quá trình giải quyết vụ án,  anh Hợi và chị Thúy thống nhất chia tài sản chung của vợ chồng là nhà, đất tại Đinh Công Tráng, thành phố KT; đất đã được UBND thành phố KT cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/8/2009 mang tên anh Hợi và chị Thúy. Theo biên bản định giá ngày 16/7/2012, nhà và đất ở tại Đinh Công Tráng có tổng trị giá là 550.000.000 đồng (giá đất định giá theo giá thị trường).

Sau khi anh Hợi khởi kiện thì chị Thúy lại tiếp tục thỏa thuận trả nợ cho chị Lã Thị Bích Ngọc (người có đơn đề nghị giám đốc thẩm) và ngày 20/4/2012 TAND thành phố KT ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 13/2012/QĐST-DS, theo đó chị Thúy phải trả cho chị Ngọc 182.500.000 đồng kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Trong vụ án chia tài sản chung theo đơn khởi kiện của anh Hợi, có một số  người sau đây có yêu cầu anh Hợi, chị Thúy trả nợ (thể hiện qua các bản tự khai): vợ chồng chị Dương Thị Hạnh, anh Đỗ Văn Thắm yêu cầu  anh Hợi, chị Thúy trả số tiền 59.000.000 đồng; chị Hồ Tuyết Nhung yêu cầu chị Thúy trả số tiền 18.950.000 đồng; vợ chồng anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan yêu cầu anh Hợi, chị Thúy trả số tiền 503.440.000 đồng; chị Nguyễn Thị Linh yêu cầu chị Thúy phải trả cho chị số tiền 40.000.000 đồng . Ngày 20/8/2012, TAND thành phố KT tiến hành hòa giải, tại phiên hòa giải các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 111/2012/QĐST- HNGĐ ngày 28/8/2012, TAND thành phố KT, tỉnh KT đã quyết định:
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về tài sản chung: Tài sản chung của anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy gồm: 01 căn nhà cấp 4, diện tích sử dụng 41,2 m2 trên diện tích đất 106 m2 tại số Y Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT nay là số X Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT- Thửa đất số 204, tờ bản đồ số 38. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01818 do UBND thành phố KT cấp ngày 07/8/2009 mang tên ông Ngô Văn Hợi và bà Lê Thị Thúy. Trị giá 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng). Anh Ngô Văn Hợi được chia 275.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng); chị Lê Thị Thúy được chia 275.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
- Về các khoản nợ chung và nợ riêng:
+ Về nợ chung:
* Anh Ngô Văn Hợi, chị Lê Thị Thúy và anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan đồng ý thỏa thuận:
Anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy trả cho vợ chồng anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan số tiền 503.440.000 đồng (Năm trăm lẻ ba triệu, bốn trăm  bốn mươi nghìn đồng, với hình thức trả như sau: trả bằng tài sản là 01 căn nhà cấp 4, diện tích sử dụng 41,2 m2 trên diện tích đất 106 m2 tại số Y Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT nay là số X Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT- Thửa đất số 204, tờ bản đồ số 38. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01818 do UBND thành phố KT cấp ngày 07/8/2009 mang tên ông Ngô Văn Hợi và bà Lê Thị Thúy. Để thực hiện riêng nghĩa vụ trả nợ cho anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan và đảm bảo công tác thi hành án. Đồng thời anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan phải có trách nhiệm trả lại cho anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy số tiền chênh lệch từ việc trả bằng tài sản là: 46.560.000 đồng (bốn mươi sáu triệu, năm trăm sáu mươi nghìn đồng) và trả thêm 93.440.000 đồng (chín mươi ba triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn đồng). Tổng cộng: 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng) trả tiền vào ngày 28/12/2012. Sau khi anh Vinh chị Loan trả đủ số tiền trên, anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan được quyền đến Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với tài sản nêu trên.
* Anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy trả cho vợ chồng chị Dương Thị Hạnh, anh Đỗ Văn Thắm số tiền 59.000.000 đồng (Năm mươi chín triệu đồng)  trả vào ngày 28/12/2012.
* Anh Ngô Văn Hợi, chị Lê Thị Thúy trả cho chị Nguyễn Thị Linh số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) trả vào ngày 28/12/2012.
+ Về nợ riêng: Chị Lê Thị Thúy trả nợ cho chị Hồ Tuyết Nhung số tiền 18.950.000 đồng (Mười tám triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng) trả vào ngày 28/12/2012.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Ngày 06/02/2013, các chị Quảng Thị Thái, Trần Thị Lợi, Lã Thị Bích Ngọc gửi đơn tố cáo đến TAND thành phố KT với nội dung việc thỏa thuận giữa anh Hợi, chị Thúy và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án phân chia tài sản chung là nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ các chị.

Ngày 06/02/2013, TAND thành phố KT có Công văn số 41/2013/CV-TA trả lời chị Thái, chị Lợi, chị Ngọc: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 111/2012/QĐST-HNGĐ là đúng pháp luật và hướng dẫn các chị gửi đơn đến TAND tỉnh KT.

Ngày 27/11/2012, TAND tỉnh KT có các Công văn số 65/2012/CV-TLĐ, 66/2012/CV-TLĐ và 67/2012/CV-TLĐ gửi chị Lợi, chị Ngọc, chị Thái với nội dung: quan hệ vay tiền của các chị với chị Thúy đã được giải quyết bằng các quyết định khác đã có hiệu lực pháp luật; các quyết định này đã công nhận sự thỏa thuận giữa các chị với chị Thúy là chị Thúy trả nợ cho các chị với các số tiền cụ thể; các bên không thỏa thuận dùng tài sản là nhà và đất tại số X Đinh Công Tráng để đảm bảo thi hành á; do đó, Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 111/2012/QĐST-HNGĐ là đúng pháp luật, không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chị.
Đối với việc giải quyết vụ án này, chúng tôi thấy như sau:
Trong quá trình chung sống, chị Thúy nợ chị Trần Thị Lợi 57.000.000 đồng và 05 chỉ vàng SJC, nợ chị Quảng Thị Thái 56.000.000 đồng. Tại các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2011/QĐST-DS ngày 6/9/2011 và Quyết định số 47/2011/QĐST-DS ngày 6/9/2011, TAND thành phố KT, tỉnh KT đã tuyên công nhận sự thỏa thuận chị Thúy trả nợ cho chị Lợi số tiền gốc là 57.000.000 đồng và tiền lãi là 3.600.000 đồng, tổng cộng là 60.600.000 đồng và 05 chỉ vàng SJC, trả một lần vào ngày 30/9/2011; chị Thúy trả nợ cho chị Thái số tiền gốc 56.000.000 đồng và tiền lãi 3.150.000 đồng, tổng cộng 59.150.000 đồng, trả một lần vào ngày 30/9/2011. Ngày12/3/2012 anh Hợi khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung giữa anh và chị Thúy.

Tại bản tự khai ngày 25/3/2012, chị Thúy khai vợ chồng có các khoản nợ chung như sau: nợ vợ chồng anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan số tiền 503.440.600 đồng; nợ vợ chồng anh Đỗ Văn Thắm, chị Dương Thị Hạnh số tiền 59.000.000 đồng; nợ chị Nguyễn Thị Linh số tiền 40.000.000 đồng; nợ chị Hồ Tuyết Nhung số tiền 28.500.000 đồng. Đồng thời, anh Thắm, chị Hạnh, chị Linh, anh Vinh,  chị Loan, chị Nhung yêu cầu anh Hợi, chị Thúy trả cho họ số tiền nêu trên (riêng chị Nhung xác định chị Thúy đã trả chị số tiền 10.000.000 đồng nên yêu cầu chị Thúy trả cho chị số tiền còn lại là 18.500.000 đồng).

Tại biên bản hòa giải thành ngày 20/8/2012, các bên đương sự đã thỏa thuận với nhau cụ thể:
- Về tài sản chung: tài sản chung của anh Hợi và chị Thúy gồm 01 căn nhà cấp 4, diện tích sử dụng 41,2 m2 trên diện tích đất 106 m2 tại số X Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT trị giá 550.000.000 đồng, anh Hợi và chị Thúy mỗi người được chia 275.000.000 đồng.
- Về nợ chung: anh Hợi, chị Thúy và anh Vinh, chị Loan đồng ý thỏa thuận: anh Hợi và chị Thúy trả cho vợ chồng anh Vinh, chị Loan số tiền 503.440.000 đồng với hình thức trả như sau: Trả bằng tài sản là 01 căn nhà cấp 4, diện tích sử dụng 41,2 m2 trên diện tích đất 106 m2 tại số X Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01818 do Ủy ban nhân dân thành phố KT cấp ngày 07/8/2009 mang tên ông Hợi và bà Thúy. Đồng thời anh Vinh, chị Loan có trách nhiệm trả lại cho anh Hợi và chị Thúy số tiền chênh lệch từ việc trả bằng tài sản là: 46.560.000 đồng và trả thêm 93.440.000 đồng, tổng cộng 140.000.000 đồng, trả tiền vào ngày 28/12/2012. Sau khi anh Vinh, chị Loan trả đủ số tiền trên thì được quyền đến Cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất đối với tài sản nêu trên.
Anh Hợi và chị Thúy trả cho vợ chồng chị Hạnh, anh Thắm số tiền 59.000.000 đồng, trả vào ngày 28/12/2012.
Anh Hợi, chị Thúy trả cho chị Linh số tiền 40.000.000 đồng, trả vào ngày 28/12/2012.
- Về nợ riêng: chị Thúy trả nợ cho chị Nhung số tiền 18.950.000 đồng, trả vào ngày 28/12/2012.
Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 111/2012/QĐST- HNGĐ ngày 28/8/2012, TAND thành phố KT, tỉnh KT đã công nhận sự thỏa thuận nêu trên của các đương sự.
Nếu như chị Thúy không phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào thì việc thỏa thuận của đương sự chỉ phụ thuộc vào ý chí, sự tự nguyện của họ đối với tài sản thuộc sở hữu, sử dụng hợp pháp của họ. Trong vụ án này chị Thúy có nghĩa vụ trả nợ chị Thái, chị Lợi và nghĩa vụ trả nợ đó đã được xác định bằng quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Anh Hợi cũng biết rõ điều này và đã được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Tại đơn khởi kiện, anh Hợi cũng đã ghi rõ “Vợ tôi là cô Lê Thị Thúy nợ nần nên tôi xin chia tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của từng người”. Tuy nhiên, khi thỏa thuận xử lý tài sản chung vợ chồng, các bên đã thỏa thuận toàn bộ tài sản chung vợ chồng của anh Hợi, chị Thúy dùng để thanh toán cho vợ chồng anh Vinh, chị Loan, vợ chồng anh Thắm, chị Hạnh, chị Nhung và chị Linh, trong đó thỏa thuận trả nợ cho vợ chồng anh Vinh, chị Loan với hình thức trả bằng nhà, đất tại Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT. Nguyên nhân của việc chia tài sản chung của vợ chồng anh Hợi, chị Thúy khi quan hệ hôn nhân của anh chị vẫn đang tồn tại xuất phát từ việc chị Thúy có nghĩa vụ phải thi hành án hai khoản nợ theo quyết định của Tòa án. Việc chia tài sản chung là để chị Thúy có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đó. Nhưng trên thực tế sau khi khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung, vợ chồng, anh Hợi, chị Thúy đã khai ra một loạt khoản nợ khác và khi thỏa thuận giải quyết về tài sản các bên đã không đề cập gì đến nghĩa vụ trả nợ của chị Thúy theo quyết định của Tòa án. Do đó, có cơ sở khẳng định thỏa thuận này của vợ chồng anh Hợi, chị Thúy là có dấu hiệu trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ của chị Thúy đối với chị Thái, chị Lợi.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ- CP ngày 03/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Lut hôn nhân và gia đình thì theo yêu cầu của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho người khác sẽ bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

Khoản 2 Điều 5 BLTTDS  quy định: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội

TAND thành phố KT đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa anh Hợi, chị Thúy và anh Vinh, chị Loan với hình thức toàn bộ tài sản là nhà đất tại đường Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT giao cho vợ chồng anh Vinh, chị Loan để trả nợ. Số tiền chênh lệch giữa giá trị nhà và khoản nợ, Tòa án lại công nhận thỏa thuận của các bên để thanh toán cho vợ chồng chị Hạnh, anh Thắm, thanh toán cho chị Vinh, chị Nhung và chị Linh trong khi Tòa án chưa thu thập các chứng cứ làm rõ các khoản nợ này có thật hay không là không đúng (trừ khoản nợ 203.440.600 đồng của vợ chồng anh Vinh, chị Loan thì trong hồ sơ có giấy nộp tiền ngày 04/01/2012 tại Ngân hàng Công thương Việt Nam, chi nhánh KT thể hiện chị Loan đã nộp 203.440.600 đồng vào tài khoản của chị Thúy, giấy nộp tiền này phù hợp với giấy vay tiền ngày 04/1/2012 do vợ chồng chị Loan cung cấp). Đồng thời, ngày 12/4/2012 Chi cục thi hành án dân sự thành phố KT có Công văn số 125/CCTHA đề nghị TAND thành phố KT phối hợp giải quyết việc thi hành án với nội dung: “Để đảm bảo công tác thi hành án được thuận lợi, tránh đương sự tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thi hành án, Chi cục thi hành án dân sự thành phố KT làm văn bản này đề nghị TAND thành phố KT khi giải quyết việc phân chia tài sản chung đối với vợ chồng bà Lê Thị Thúy và ông Ngô Văn Hợi trên cơ sở xem xét việc bà Thúy đang thực hiện nghĩa vụ phải thi hành án”. Tuy nhiên, khi giải quyết TAND thành phố KT vẫn công nhận sự thỏa thuận nêu trên của các bên mà không đề cập đến quyền lợi của chị Lợi, chị Thái đã được TAND thành phố KT ghi trong các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2011/QĐST-DS ngày 6/9/2011 và Quyết định số 47/2011/QĐST-DS ngày 6/9/2011 trước đó là không đúng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của chị Lợi, chị Thái.

Đối với trường hợp của chị Lã Thị Bích Ngọc thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của chị Ngọc và chị Thúy sau ngày anh Hợi khởi kiện chia tài sản chung. Tuy nhiên, quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa chị Ngọc và chị Thúy có hiệu lực từ ngày 20/4/2012 nhưng đến ngày 28/8/2012 vợ chồng anh Hợi, chị Thúy mới thỏa thuận trả nợ cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 111/2012/QĐST- HNGĐ nên Quyết định công nhận phân chia tài sản chung của vợ chồng số 111/2012/QĐST-DS ngày 28/8/2012 nói trên cũng đã ảnh hưởng đến cả quyền lợi của chị Ngọc. Do đó, nếu vụ án được xét xử lại thì cần phải xem xét đến việc chị Thúy đang có nghĩa vụ trả nợ đối với chị Thái, chị Lợi và chị Ngọc. Trên cơ sở thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ, làm rõ nghĩa vụ trả nợ chung, trả nợ riêng và tình hình tài sản của vợ chồng để xử lý phù hợp với chứng cứ và quy định của pháp luật.

Về mặt tố tụng: Theo quy định tại Điều 178 BLTTDS thì thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của BLTTDS về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là vợ chồng chị Đào Thị Loan, anh Mã Hùng Vinh, vợ chồng chị Dương Thị Hạnh, anh Đỗ Văn Thắm, chị Nguyễn Thị Linh, chị Hồ Thị Tuyết Nhung phải có đơn yêu cầu và xuất trình các chứng cứ cơ bản chứng minh là vợ chồng anh Hợi, chị Thúy có nợ chung hoặc nợ riêng với mình; đồng thời phải nộp tiền tạm ứng án phí cho yêu cầu độc lập của mình thì Tòa án mới xem xét, giải quyết. Dù những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nói trên không nộp tiền tạm ứng án phí, không có đơn yêu cầu giải quyết mà chỉ dựa trên lời khai của vợ chồng chị Thúy, anh Hợi và sau đó Tòa án lấy lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cũng chưa thu thập, kiểm tra chứng cứ, tài liệu để xác định các khoản nợ này có thật hay không mà đã quyết định công nhận thỏa thuận của các bên là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Nguồn: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO