Khen - Chê: Đón nhận như thế nào cho đúng?

Nguồn: Internet
Chúng ta phải thừa nhận rằng, trong cuộc sống không ai có thể toàn vẹn, hoàn hảo được, lý do không phải là vì mỗi người không ít thì nhiều đều tồn tại những khuyết điểm mà đơn giản loài người như đưa ra được một chuẩn thống nhất về khái niệm thế nào là “một con người hoàn hảo”. Chính vì lẽ đó nên mỗi cá nhân chúng ta khi được sinh ra, lớn lên và chết đi đều trải qua cái cảm giác được khen, “được” chê. Và bạn đã bao giờ tự hỏi rằng “Tại sao khi được người khác khen người, tâng bốc chúng ta có xu hướng hạnh phúc hơn khi “được” chê?”

Tôi cho rằng khi chúng ta được khen, lời khen đó là minh chứng cho việc thừa nhận, ghi nhận sự vượt trội của chúng ta so với những người khác như thông minh, xinh đẹp, tài giỏi… Nó làm cho bạn có cảm gác vị thế của mình được nâng lên, làm thỏa mãn nhu cầu được kính trọng, kính mến (Esteen) và ngược lại khi nhận những lời chê bai, những lời có chứa nhiều tính từ không tốt thì bạn sẽ cảm thấy ngược lại thậm chí bị ức chế, bị xem thường... Cho rằng vị thế của bạn về vấn đề đó không được kính trọng trong lòng người khác.

Tuy nhiên, ở đây tôi không muốn viết quá nhiều về câu chuyện bạn vui hay buồn khi được khen và bị chê vì tôi không phải là chuyên gia tâm lý cũng chả phải là Giáo sư sinh học. Điều tôi muốn chia sẻ với bạn là nhìn nhận một lời khen và một lời chê như thế nào để trách bị ảnh hưởng đến cuộc sống.

Tôi được nghe, được đọc rất nhiều lời khuyên hay về đối nhân xử thế, trong bài viết này tôi sẽ đề cấp câu nói mà tôi không rõ tôi nghe, đọc được từ đâu nên nội dung mà tôi viết sau đây đã qua lăng kính chủ quan của tôi vì thế nó không còn nguyên gốc như ban đầu nữa.

Trong cuộc sống, người khen ta đúng cái ta có là bạn ta, khen ta cái ta không có là kẻ hại ta. Chê ta đúng cái ta mắc phải là thầy ta và chê ta cái ta không có là kẻ ganh tỵ với ta

Đến nay loài người vẫn chưa đưa ra được một quy chuẩn hoàn hảo về “đạo đức” về “công bằng”, chính vì vậy mọi xét đoán hành vi mà chúng ta thực hiện hoặc không thực hiện đều dựa trên ý chí chủ quan của một người, một nhóm người mà cơ sở để họ đưa ra phán xét hành vi của chúng ta là dựa trên “cơ sở dữ liệu” và “lợi ích” của họ. Chính vì vậy, khi chúng ta nhận được những lời khen, lời chê của người khác điều đầu tiên là phải tự xét đoán lại điều đó có đúng với cái chuẩn làm người của ta không!?

Tất nhiên, mỗi người có một cái chuẩn sống riêng mà tôi vẫn gọi là “cơ sở dữ liệu của từng người” còn những người khác (có thể là bạn) thích dùng những thuật ngữ như “tính cách”, “tính tình”… Chính vì sự không trùng lắp và khác biệt giữa người với người trong việc phán xét một hành vi (ở trạng thái hành động hoặc không hành động) là đúng hay sai nên khi bạn tiếp nhận một lời khen hay chê thì phải thật tỉnh táo xem xét lại nó có hay không có phù hợp với chuẩn sống của mình.

Chính vì mỗi chúng ta thường tự cảm thấy hạnh phúc khi người khác khen mình nên thường có cái nhìn thiện cảm với những người khen và ác cảm với những người chê mình. Tuy nhiên, điều này đúng nếu như họ khen cái ta có và họ chê cái ta  có nhưng lỡ như điều ngược lại thì sao? Chúng ta kết thân, hữu hảo với một kẻ nịnh nọt và xa rời với một người thầy tốt, hậu quả là rất vô lường.

Ví dụ, mỗi chúng ta sinh ra đều không có quyền quyết định mình đẹp hay xấu (bỏ qua phẩu thuật thẩm mỹ) và trên thế giới này không ai có thể đưa ra được một cái chuẩn cụ thể, rõ ràng, chung cho tất cả mọi người để xét đoán một người là đẹp hay là xấu. Hầu hết chỉ là sự đánh giá của một cá nhân, một nhóm người chính vì vậy bạn không phải buồn khi bị chê xấu và cũng không nên quá tự hào khi được khen rằng mình đẹp. Một người hoặc vài người nào đó khen bạn đẹp với những lời có cánh, tâng bốc bạn lên nhiều hơn so với điều mà họ thực sự cảm nhận được về nhan sắc của bạn, có thể sẽ khiến bạn nghĩ rằng bạn đẹp hơn nhiều người, những người khác phải đề cao nhan sắc của bạn. Rồi một ngày không được đẹp trời cho lắm, bạn gặp tôi (hay ai đó vô duyên như tôi chẳng hạn),  tôi sẽ cho bạn biết bạn đẹp như thế nào. Tất nhiên, bạn sẽ cho rằng tôi ganh tỵ và đánh giá thấp về giá trị nhan sắc của bạn, nhưng nếu có nhiều “tôi” thì chắc chắn bạn sẽ xem xét lại và khi nhận ra rằng mình không đẹp như mình vẫn nghĩ, vị trí của mình trong suy nghĩ của người khác không cao như mình vẫn tưởng, chắc hẳn bạn có cảm giác bị hụt hẫng, nhìn lại những tháng ngày sống trên mây bạn cảm thấy nhục nhã. Vâng, sống quá lâu trong sự ảo tưởng đến khi đón nhận sự thật về giá trị thực sự của bản thân thì chắc chắn rất là khó khăn. Giống như thị trường chứng khoán, bất động sản phải gồng mình như thế nào sau khi bong bóng vỡ tan vậy.

Lời khen, chê tác động rất lớn đến tinh thần của mỗi chúng ta, chính vì vậy tôi hy vọng rằng bạn nên tỉnh táo khi tiếp nhận chúng. Và theo tôi, hãy làm những điều sau:

    1. Giá trị của lời khen, chê (ai là người có quyền quyết định hành vi của bạn là đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp)
    2. Nội hàm của lời khen, chê (có đúng với chuẩn của bạn hay không?)
    3. Bạn có nên thay đổi cho phù hợp hay không ? (Phát huy lời khen và hạn chế điểm bị chê)
Điều cuối cùng tôi muốn chia sẻ rằng “Cuộc sống vốn dĩ phức tạp, bạn phải tạo lập cái chuẩn của riêng mình, tự tạo ra cái bất biến để chống lại cái vạn biến của xã hội”.
 
Một điều nữa về nhan sắc (tại vì đây là khía cạnh tôi đã sử dụng làm ví dụ ở trên), tôi muốn nói với bạn một điều rằng: "Nếu bạn nghĩ rằng mình xấu xí thì thế giới này không ai rãnh để đi chứng minh điều ngược lại" - Một người tự nhận mình đẹp trai nhất trái đất, hệ mặt trời, thiên hà, vũ trụ cho biết.

Vụ án tàu Mignonette - Vụ án kinh điển chưa có lời giải.

Ảnh minh họa, nguồn: internet
Sau khi vụ khủng bố tại thành phố Paris của nước Pháp xảy ra, có rất nhiều vấn đề liên quan đến tính công bằng giữa con người với con người, có hay không sự phần phân biệt giữa việc mọi người trên thế giới phản ứng về cái chết của các nạn nhân trong vụ khủng bố tại thành phố Paris và cái chết của các nạn nhân trong các cuộc giao tranh tại các nước khác trên thế giới. 

Thật ra đây chỉ là lý do để tôi nhớ đến một vụ án kinh điển ở thế kỷ 19 mà đến nay vẫn chưa tìm ra được lập luận mang tính thuyết phục nhất để giải quyết vụ án. 


Câu chuyện đã được nhiều báo chí kể lại và tóm tắt như sau:

Tàu Mignonette trên đường đi từ Southampton tới Sydney, dự kiến tơi nơi ngày 19/5/1884. Thủy thủ đoàn có 4 người, Tom Dudley là thuyền trưởng, Edwin Stephens là thuyền phó thứ nhất, Edmund Brooks là thủy thủ. Tất cả đều có tính tình tuyệt vời. Thành viên thứ tư là một cậu nhóc làm trong cabin, Richard Parker 17 tuổi, một cậu bé mồ côi không gia đình. Và đây là hành trình dài đầu tiên của cậu bé. Cậu bé ra đi cho dù bạn bè của cậu ngăn cản không nên đi. Với hi vọng và tham vọng tuổi trẻ, cậu nghĩ rằng hành trình này sẽ khiến cho cậu trở thành người đàn ông đích thực.
Con tàu bị chìm ở Nam Đại Tây Dương, ngày 5/7/1884, cách mũi đất 130 dặm. Một cơn sóng to ập vào tàu và tàu Mignonette bị chìm. Bốn người trên tàu nương mình trên một chiếc thuyền cứu sinh không có nước ngọt. Thức ăn duy nhất là hai can củ cải ướp bảo quản. Trong ba ngày đầu họ không ăn gì, ngày thứ 4 họ khui một can củ cải để ăn. Ngày hôm sau họ bắt được một can củ cải khác và một con rùa. Con rùa giúp họ cầm cự thêm được vài ngày. Và tám ngày sau họ chẳng có gì. Không thức ăn. Không nước uống. Lúc đó, cậu bé Parker nằm dưới thuyền cứu hộ, cậu bị kiệt sức bởi không nghe lời của những người kia mà uống nước biển. Cậu đang chết từ từ.
Vào ngày thứ mười chín, thuyền trưởng Dudley đề nghị họ nên bốc thăm rằng ai sẽ hy sinh để cứu những người còn lại. Brooks từ chối, ông ta không thích ý tưởng bắt thăm và cuối cùng mọi người cũng không bắt thăm.
Ngày hôm sau, họ không nhìn thấy tàu bè nào cả. Vì vậy, Dudley bảo Brooks nhìn đi chỗ khác và ra hiệu với Stephens rằng cậu bé Parker nên bị giết. Dudley cầu nguyện và nói với cậu bé rằng đã đến lúc và dùng dao đâm vào động mạch cổ của cậu ta.
Brooks đổi quan điểm phản đối đầy tính đạo đức để được chia một phần thức an kinh khủng này. Trong bốn ngày, ba người còn lại đã ăn thịt và uống máu cậu bé. Và sau đó họ đã được cứu sống. Dudley miêu tả việc họ được cứu sống trong nhật kí của mình như sau: " vào ngày thứ hai mươi bốn, khi chúng tôi đang ăn sáng thì cuối cùng cũng xuất hiện một con tàu. Con tàu Đức đã cứu 3 người và đưa họ trở lại Falmouth". Tại đây, họ bị bắt và đem xử.
Điểm khiến cho vụ án này trở nên kinh điển vì nó chứa đựng một nội hàm mà đến nay phần lớn chúng ta phủ nhận nhưng hành động lại theo hướng ngược lại. Ý tôi là rất nhiều ủng hộ việc giết một người để giữ mạng sống cho 03 người, nói cách khác chủ nghĩa vị lợi đã được ủng hộ với mạng sống của con người.

Trước đây trong bài viết về giá trị hạnh phúc của mỗi người, tôi từng thể hiện quan điểm phản đối việc áp dụng thuyết vị lợi vào mạng sống của con người và trong bài viết này, tôi vẫn giữ nguyên quan điểm đó. 


Đầu tiên, đối với vụ án nêu trên, tôi đồng ý với quan điểm của Công tố viên đại diện cho Nữ hoàng Anh khi kết luận rằng “Giết người là giết người”. Sau đây là quan điểm của tôi, tạm thời bỏ qua các quy định của pháp luật, chỉ bàn đến góc độ của đạo đức và sự công bằng nên bạn đừng hỏi tôi rằng, năm 1884 đã có Luật Biển quốc tế chưa? Họ thực hiện hành vi trên vùng biển của nước Anh không? Hay những câu hỏi mang tính hài hước tương tự.


Thứ nhất, những người tham gia chuyến hành trình đó hiểu rõ và buộc phải hiểu rõ những nguy cơ đe dọa đến mạng sống của mình có thể xảy ra trên biển, nhưng họ đã chấp nhận các rũi ro có thể xảy đến để tìm lấy vinh quang. Nếu mỗi cá nhân tham gia chuyến hành trình nêu trên đã chấp nhận rũi ro có thể lấy đi mạng sống của mình thì họ có quyền đẩy cái rũi ro đó cho người khác hay không?


Thứ hai, nếu cho rằng hy sinh một người để cứu 03 người là cần thiết thì chúng ta hãy tưởng tượng tình huống như thế này nhé: Vào một ngày không được đẹp trời cho lắm, bạn đi đến bệnh viện để khám sức khỏe và thật trùng hợp vào ngày cái định mệnh ấy có 03 người bị tai nạn giao thông, một người có nhóm máu trùng với nhóm máu của bạn cần được truyền máu trong khi bệnh viện và các bệnh viện ở khu vực không còn nhóm máu đó, một người bị hư hai quả thận và trùng hợp là hai quả thận của bạn phù hợp để cấy ghép, một người bị ảnh hưởng tim cần được ghép tim gấp. Cả ba người đó đều nguy hiểm đến tính mạng, vậy bạn có sẵn sàng hy sinh bản thân mình để cứu ba người họ? Câu trả lời chắc chắn là không rồi, vậy tại sao Parker phải hy sinh để cứu các thành viên còn lại trên tàu!? Nếu các bạn để ý, các bộ phim chúng ta xem thường có một người nói câu đại loại như thế này:"làm chuyện lớn phải biết hy sinh", nhưng người hy sinh không phải là người nói ra câu nói đó!


Thứ ba, nếu tất cả mọi người trên chiếc thuyền Mignonette đồng ý bốc thăm thì việc giết người có được thừa nhận? Vẫn tạm bỏ qua các quy định của pháp luật, tôi có quyền quyết định mạng sống của mình hay không? Trong bài viết về "quyền bán dâm", tôi có nhắc đến vấn đền chúng ta có sở hữu chính chúng ta hay không và đó cũng là một phần trả lời cho câu hỏi chúng ta có quyền quyết định mạng sống của mình hay không. Nếu các bạn cho rằng có, thì tôi suy đoán rằng các bạn ủng hộ với hành vi trợ tử (giúp người khác được chết để thoát khỏi cảm giác đau đơn do bệnh tật gây ra), các bạn cũng hộ hành vi giúp người khác tự tử, các bạn cũng ủng hộ các hành vi bạo lực sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có thỏa thuận và tất nhiên là tất tần tật các hành vi liên quan đến thể xác con người vì các bạn đang ủng hộ lập luận chúng ta sở hữu vô hạn đối với cơ thể chúng ta. Lưu ý với các bạn rằng, phần lớn những hành vi liên quan đến cơ thể của chúng ta đề bị pháp luật cấm, ví dụ: Bán dâm, bán nội tạng cơ thể, trợ tử, giúp người khác tự tử, thỏa thuận bạo lực....


Thứ tư, nếu như ngay sau ngày Parker bị giết, các thuyền viên còn lại được cứu thì các bạn có cho rằng cái chết của Parker là vô ích hay không vì thực tế Parker không cần phải chết thì các thuyền viên đều được cứu? Nếu như lập luận rằng, làm sao biết được ngay ngày hôm sau sẽ có thuyền thì tôi cũng cho rằng làm sao chắc chắn ngày hôm sau không có thuyền đi ngang qua?


Cuối cùng tôi cho rằng, hành vi của thuyền trưởng Dudley là giết người.

- Bạn không thể đẩy rủi ro mà bạn phải chấp nhận khi thực hiện hành vi cho người khác;
- Không thể lập luận giữa phí tổn và lợi ích đối với mạng sống con người;
- Chúng ta không sở hữu vô hạn đối với cơ thể của chúng ta.
Tôi tự hỏi các bạn sẽ phản ứng như thế nào khi đọc một bài báo viết về một vụ tai nạn giao thông 01 người chết và một bài viết về tai nạn giao thông 100 người chết? Có phải con số người chết ảnh hưởng nhiều đấy chứ. Mặc dù, liên quan đến mạng sống con người, nhiều nhà triết học phản đối áp dụng Chủ nghĩa vị lợi – tối đa hóa lọi ích, nhưng trong thực tế thì không phải vậy. 

Còn bạn, ý kiện của bạn như thế nào?

Bán dâm - Nên hay không nên ?

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Trong thời gian qua, vấn đề nên hay không nên thành lập “khu vực nhạy cảm”, hay nói cách khác là hợp pháp hóa việc bán dâm và các ngành nghề nhạy cảm dễ liên quan đến tệ nạn xã hội khác. Trong bài viết này, tôi bàn đến việc bán dâm. 

Chúng ta có sở hữu chính mình hay không?


Nếu bạn muốn bán một cái gì đó thì trước hết bạn phải sở hữu nó, bán dâm được hiểu là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác (khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003), hiểu theo nghĩa này người thực hiện hành vi bán dâm bán đi khả năng giao cấu với người khác để có được tiền hoặc lợi ích vật chất khác. Nhưng họ có thực sự sở hữu khả năng này hay không?


Tôi xin đề cập đến hai ví dụ, 


- Thứ nhất là việc mua bán thận, hành vi bán thận bị cấm ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đã có rất nhiều lý lẽ ủng hộ cũng như phản đối việc mua bán thận. Bên ủng hộ cho rằng mỗi năm có rất nhiều người chết vì chờ được cấy ghép thận, vậy nếu như thành lập một thị trường tự do về mua bán thận sẽ hạn chế việc người bị chết, mặt khác một người có thể sống bình thường với một quả thận, và dựa trên chủ nghĩa tự do cá nhân, tôi sở hữu không hạn chế đối với các bộ phận trên cơ thể của tôi. Bên phản đối cho rằng, việc cho phép mua bán thận sẽ dẫn đến những hành vi môi giới trung gian kiếm tiền trên bộ phận cơ thể của người bán và sự khó khăn bệnh tật của người mua là vô nhân đạo, bên cạnh đó nếu tôi có quyền sở hữu vô hạn đối với toàn bộ các bộ phận trên cơ thể của tôi thì sau khi tôi bán xong một quả thận tôi phải có quyền được bán đi quả thận thứ hai dù chấp nhận mất mạng, như vậy có nghĩa rằng tôi đã sử dụng mạng sống của mình để có được tiền. 


Nếu chỉ cho phép mua bán những nội tạng dùng để cứu người và không gây nguy hại đến mạng sống của người bán thì có nghĩa rằng bạn không sở hữu vô hạn đối với các bộ phận trên cơ thể của bạn.


- Thư hai, mang thai hộ. Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cho phép hành vi mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Người phụ nữ dùng khả năng tự nhiên của mình để mang thai hộ cho người khác nhưng không được bán khả năng đó. Tại sao tôi chỉ được sử dụng chức năng phụ nữ của tôi cho mục đích giúp người khác chứ không phải vì mục đích có được lợi ích vật chất trong khi nhiều quốc gia trên thế giới cho phép việc đàn ông bán tinh trùng? Thẩm phán tòa án sơ thẩm Tòa án bang New Jersey, Mỹ, R. Harvey Sorkow, lập luận rằng: “Nếu nam giới có thể cung cấp các phương tiện để sinh sản thì phụ nữ cũng phải được phép làm vậy, nếu không được làm thế là phủ nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trước pháp luật”. Tuy nhiên, Chánh án Tòa án tối cao của Mỹ, Robert Wilentz, phủ nhận quyền được bán khả năng sinh con của người phụ nữ với lý do cấu thành hành vi bán trẻ em, và ông khẳng định rằng trong xã hội này có những thứ tiền không thể mua được. Đẻ thuê tương đương với bán con mà bán con là hành vi không thể chấp nhận được trong một xã hội văn minh. Ông cũng phủ nhận lập luận cho rằng tiền để trả cho việc đẻ thuê không phải là mua đứa trẻ vì người đàn ông là cha của đứa trẻ, tiền chi trả cho việc người phụ nữ đồng ý mang thai và đẻ ra đứa trẻ, nói khác đi tiền đó là mua trứng và khả năng mang thai của người phụ nữ chứ không phải mua đứa trẻ mà trứng là một tế bào chứ không phải là hợp tử. Wilentz cho rằng người phụ nữ trong hợp đồng đẻ thuê phải từ bỏ quyền làm mẹ thì mới được nhận khoản tiền đó chứng tỏ rằng họ phải đánh đổi người con của mình để có tiền.


Con người là mục đích hay là phương tiện?


Immanuel Kant (1724 – 1804) phản đối tất cả các hành vi quan hệ tình dục ngoài hôn nhân vì ông cho rằng dù là tự nguyện thì hành vi đó cũng hạ phẩm giá của hai người. Về hành vi mại dâm, Kant cho rằng con người phải coi mình là mục đích chứ không phải là phương tiện để đạt được mục đích, vì người không phải là đồ vật. Và Kant cũng khẳng định rằng không ai có quyền sử dụng tùy ý bản thân mình vì có thể của chúng ta không thuộc quyền sở hữu của chính chúng ta, ông cho rằng “việc cho phép một người vì lợi nhuận mà chấp nhận bị sử dụng nhằm mục đích thỏa mãn ham muốn tình dục củ người khác và tự biến mình thành đối tượng của đòi hỏi đồng nghĩa với việc biến người đó thành đồ vật thỏa mãn thú tính, giống như thỏa mãn cơn đói bằng một miếng thịt bò”.
Dưới góc độ của Kant, khi thực hiện hành vi mua bán dâm người đàn ông quan hệ tình dục với một người đàn bà không phải vì người đàn bà đó mà vì giới tính của bà ta, chính vì vậy hành vi mua bán dâm sẽ hạ thấp giá trị con người xuống nên phải bị phản đối.
Con người phải coi mình là mục đích để hành động chứ không phải là phương tiện để đạt được mục đích.


Có nên hợp thức hóa việc bán dâm?


Cho đến nay, tôi vẫn chưa thấy một lập luận nào đủ sức thuyết phục tôi đồng ý với quan điểm hợp thức hóa việc bán dâm khi mà các lập luận đều chỉ muốn nói đến việc quản lý không được nên cần phải dồn lại thành một khu. Cho đến nay, đa số các quốc gia trên thế giới vẫn phản đối hành vi mua bán dâm. Khi chúng ta gia nhập WTO, câu nói được nhắc đến nhiều nhất đó là “hội nhập chứ không hòa tan” vậy nếu chúng ta thừa nhận hành vi mua bán dâm thì có được coi chúng ta đã bị hòa tan hay không?


Chúng ta phản đối tình dục ngoài hôn nhân, hành vi ngoại tình bị phạt tiền vậy mua dâm có được xem là ngoại tình hay không?


Có quá nhiều câu hỏi chưa được giải đáp một cách thỏa đáng thì vấn đề hợp pháp hóa việc mua bán dâm xem ra còn xa vời.

Tính duy nhất trong tình yêu là gì?

Bài viết này tôi sẽ trình bày với các bạn về tình yêu, tất nhiên vấn đề cố hữu này tôi sẽ không đưa ra khái niệm hay định nghĩa để trả lời câu hỏi "Tình yêu là gì?", vì quá nhiều bài viết, quá nhiều người đã cố gắng đưa ra khái niệm này nên tôi nghĩ mình không cần phải lao đầu vào con đường vốn dĩ không có lối ra trong việc cố gắng định nghĩa "tình yêu là gì?" nhưng qua bài viết này tôi sẽ trình bày quan điểm của tôi về yếu tố cốt lõi duy trì tình yêu hay nói cách khác tình yêu tồn tại dựa trên nền tảng gì?


Tôi khẳng định với các bạn những gì mà tôi viết ra sau đây không hẳn là dựa trên những gì mà tôi trải qua mà phần lớn là những gì tôi nghe được, thấy được, đọc được và cảm nhận được qua những mối quan hệ của những người xung quanh, trên film, báo chí, và các diễn đàn mạng....

Trước hết, tôi cho rằng tình yêu được tồn tại dựa trên một nguyên tắc cốt lõi đó là "tính duy nhất"!? "Tính duy nhất" là gì? Sau đây là câu trả lời:

Không có loại tình cảm nào mà tính duy nhất được nhấn mạnh như tình yêu, bạn có thể có nhiều người bạn thân, bạn có thể mặc định đồng ý việc cha mẹ bạn cùng lúc quan tâm đến tất cả anh em của bạn, bạn dễ dàng chấp nhận bạn thân của bạn có người bạn thân khác nhưng không bao giờ bạn có thể chấp nhận người  yêu của bạn cùng lúc yêu hai hay nhiều người khác nhau.

Tính duy nhất ở đây có nghĩa là bạn chỉ được phép yêu tôi mà không được phép yêu bất kì người nào khác ngoài tôi, tất cả nội tại có trong tình yêu của bạn chỉ được phép dành cho tôi mà không phải là người nào khác, bạn chỉ được phép nói yêu tôi, thương tôi, nhớ tôi (theo nghĩa là yêu)... mà không được thể hiện những tình cảm như vậy với người nào khác.

Tình yêu một sản phẩm xã hội, nó không phải là bản chất con người, cho nên tính duy nhất của tình yêu là do sự phát triển của xã hội tạo nên, nó là sản phậm của kiến trúc thượng tầng, chứ không thuộc về bản năng. Bản năng con người khi sinh ra không có khái niệm về tình yêu mà chỉ có một nhiệm vụ thuộc về bản năng đó là duy trì nòi giống.

Mời bạn quay lại thời kỳ sơ khai của loài người khi loài người sống theo kiểu bầy đàn, tại thời kỳ này nếu có tồn tại tình yêu thì yếu tố duy nhất chắc chắn sẽ không được đề cao vì con người quan hệ theo bầy đàn, không ai quan tâm đến việc người đàn ông này, người phụ nữ này là của tôi và chỉ mình tôi được quan hệ. Sang đến thời kỳ phong kiến, tư liệu sản xuất vẫn yêu cầu sức mạnh nên người đàn ông được coi trọng, chính vì vậy chuyện người đàn ông có nhiều vợ được xem như là bình thượng mặc dù có sự đố kỵ giữa những người vợ nhưng họ không bao giờ dám bắt người chồng phải bỏ những người kia và chỉ yêu một mình họ. Như đã từng đề cập trong bài viết trước dây, chính vì sự phát triển của công cụ sản xuất, khoảng cách giữa việc người đàn ông và người phụ nữ được thu hẹp dần và cũng nhằm hạn chế sự sinh sản dường như không thể kìm hãm của loài người gây mất cân bằng sinh thái, loài người dường như không có đối thủ trong chuổi thức ăn nên tự thân loài người phải xây dựng nên một công cụ để kìm hãm lại sự sinh sôi nãy nở vượt quá tầm kiểm soát, bên cạnh đó người phụ nữ cũng đấu tranh để khẳng định quyền của mình trong xã hội, dần dần hình thành nên quy tắc người phụ nữ có quyền được đòi hỏi người đàn ông không được có người phụ nữ khác.

Theo thời gian, tình yêu ra đời như một phần tất yếu theo đòi khỏi khách quan của xã hội và đồng hành với đó là sự lên ngôi của tính duy nhất. Anh chỉ được yêu em hay em chỉ được yêu anh...

Đặc tính cố hữu của con người là sự ích kỷ, bất kỳ hành động nào dù được đánh giá là vì cộng đồng hay vì người thân hay vì bất kỳ ai mà người thực hiện hành vi quan tâm đều xuất phát từ việc người đó cho là đúng đắn và cần thiết tại thời điểm thực hiện hành vi, nghĩa là khi tôi chia cho bạn một nữa mẩu bánh mà tôi có không hoàn toàn vì tôi quan tâm đến bạn mà còn vì nếu tôi ăn hết mẩu bánh đó tôi cho rằng mình sẽ không "hạnh phúc" sau này nên tôi chia cho bạn một nữa mẩu bánh mà tôi có, một người mẹ hy sinh cho con mình những gì tốt nhất không hẳn vì người mẹ đó quan tâm và yêu thương con mà còn vì nếu như người mẹ không hy sinh thì người mẹ sẽ cảm thấy mặc cảm tội lỗi sau này, chính vì vậy sự hy sinh đó nhằm giải phóng đi sự ăn năn, xấu hổ, mặc cảm tội lỗi trong tương lai mà người mẹ cho rằng mình sẽ gặp phải nếu như không làm điều đó, tuy nhiên khi thực hiện hành vi đó người mẹ sẽ phủ nhận đi sự ích kỷ này của bản thân vì đôi lúc người ta không nghĩ đến bản chất của hành vi mình thực hiện mà cho rằng đó là việc nên làm.

Tính ích kỷ của con người kết hợp với tính duy nhất của tình yêu ép buộc chúng ta chỉ được phép tồn tại tình yêu giữa hai cá thể (việc tôi sử dụng cụm từ "hai cá thể" mà không phải giữa "nam - nữ" không đồng nghĩa với việc tôi ủng hộ quan hệ đồng tính, tôi phản đối quan hệ đồng tính vì những cá thể quan hệ đồng tính không thực nhiệm vụ cơ bản của loài đó là duy trì nòi giống, bạn không thực hiện nghĩa vụ cơ bản thì bạn không có quyền đòi hỏi quyền cơ bản), nó tạo ra sự gắn kết giữa hai cá thể lớn tới mức có thể vượt qua tình mẫu tử (một tình cảm mà tôi cho là thiêng liêng nhất trong tất cả các loại tình cảm tồn tại trong xã hội từ trước tới nay), vì tình yêu sẽ là nền tảng tạo nên một gia đình, một tế bào của xã hội và còn góp phần thực hiện một nhiệm vụ quan trọng mà từ lúc sinh ra một cá thể người phải thực hiện - góp phần duy trì nòi giống - một cách có kiểm soát.

Vậy, làm sao để tính duy nhất được đảm bảo hay nói cách khác làm sao tình yêu có thể tồn tại được giữa hai người trong xã hội?

Để tính duy nhất tồn tại thì phải đảm bảo được không có sự lựa chọn tốt hơn thay thế, có vẻ giống với kinh tế học về thuyết cơ hội nhưng quả thật không khác là mấy, con người luôn vươn tới những cái tốt đẹp hơn (còn thế nào là tốt đẹp hơn thì không có một chuẩn nhất định mà phụ thuộc vào "cơ sở dữ liệu" của từng người), mặc dù họ đã xây dựng nên một tình yêu nhưng họ luôn tìm kiếm những mối quan hệ ở những cá thể tốt hơn mà họ có thể gắn kết được nhưng bạn không phải lo lắng quá nhiều về việc đó, vì có những cơ chế kìm hãm sự tìm kiếm lựa chọn tốt hơn, có thể kể đến là nỗi sợ hãi khi phải thay đổi, sự neo đậu thông tin (tôi không thích dùng thuật ngữ này, tôi thích dùng thuật ngữ "tính quán tính của thông tin" hơn, nhưng tại sao tôi dùng thì bạn có thể tìm kiếm bằng google xem ai là người khai sinh ra thuật ngữ này), bản năng thích nghĩ về những kỷ niệm đẹp nhiều hơn là đau khổ... Mỗi cơ chế phát huy hiệu quả ở những giai đoạn khác nhau, ví dụ con người thường nghĩ về kỷ niệm đẹp hơn là đau khổ mà họ trải qua trong đời. Bạn và người yêu hay với bất kỳ người nào khác có xung đột với nhau nhưng sau khi đã qua bạn nhớ về người đó với những kỷ niệm đẹp nhiều hơn là chuyện buồn, thậm chí nhiều khi niềm vui mà bạn nhớ lại vượt quá mức thực tế mà bạn đã trải qua. Nhờ điều này mà bạn có thể vượt qua được chuyện không vui để hàn gắn mối quan hệ.

Các cơ chế này đảm bảo duy trình tình yêu giữa hai cá thể nếu như hai cá thể này cảm thấy hạnh phúc thì việc tìm kiếm sự lựa chọn tốt hơn thay thế là gần như không có và giả sử có thì nó cũng bị các cơ chế bảo đảm như tôi đã nói vùi dập trong tích tắc!

Như vậy, nếu bạn không thể đảm bảo được tính duy nhất trong tình yêu, bạn sẽ không thể đảm bảo tình yêu của bạn có thể tồn tại lâu được dù bạn là một người nói dối đủ tốt thì sự thật sẽ bị phơi bày một ngày nào đó. Nên nhớ rằng, không có bất kỳ hạnh phúc nào có thể xây dựng dựa trên sự giả dối.

Điểm ưu tiên trong tuyển sinh đại học – Phù hợp hay không phù hợp?


         Những ngày qua, vấn đề về việc công điểm hay không cộng điểm ưu tiên trong tuyển sinh đại học trở thành chủ đề tranh luận sôi nổi trên các trang báo và các diễn đàn, mạng xã hội. Hôm nay, tôi xin trình bày một vài quan điểm của mình liên quan đến vấn đề này:

        1. Muhammad Ali khi sinh ra đã có những kỹ năng để ông trở thành võ sĩ quyền anh cừ khôi, Micheal Jackson có giọng hát tuyệt vời và tư duy vũ đạo độc đáo… và hai người họ rất nổi tiếng và kiếm được nhiều tiền nhưng đó là trong một xã hội ưa chuộng môn thể thao đấu quyền anh và âm nhạc. Nếu như cũng hai người đó, Ali và Jackson, không ở Mỹ mà ở một bộ lạc nào đó trên thế giới không cần tới hai kỹ năng này thì các bạn có nghĩ họ thành công như vậy hay không?
Như vậy, chính cộng đồng người quyết định trong các kỹ năng mà mẹ tự nhiên tạo ra thì cái nào được ưu tiên hơn. Sự phân bố tài năng thiên phú và sự ngẫu nhiên của hoàn cảnh xã hội là không công bằng và sự bất công này có tính tất yếu dù con người có sắp đặt sao đi nữa. Tuy nhiên, tôi cho rằng không thể lập luận điều này để cho rằng sự không bằng trong xã hội là một điều tất yếu, mọi kỹ năng mà mẹ tự nhiên tạo ra đều cần thiết trong cuộc sống, nếu chúng ta biết tận dụng và phân bố tới nơi cần thì ai cũng có thể phát huy triệt để khả năng của mình và mọi người đều có ưu thế của riêng mình.

         Milton Friedman (1912 – 2006) (các bạn lưu ý ông Friedman này không phải là tác giả của hai cuốn sách “Thế giới phẳng” và cuốn “Chiếc xe Lexus và cành Oliu”), cho rằng chúng ta không nên cố gắng khắc phục bất công này, thay vào đó chúng ta nên biết cách sống chung với nó, và hưởng những lợi ích nó mang lại: Cuộc sống vốn không công bằng, nhưng John Rawls (1921 – 2002) lại không đồng ý quan điểm này của Friedman, ông cho rằng sự bất công này có thể được giải quyết thông qua việc chia sẻ số phận với mọi người, những người có kỹ năng được ưu tiên tại thời điểm này có thể chia sẻ những ưu đãi mà mình có được từ xã hội cho những người khác.

          2. Phải thừa nhận rằng những người được sinh ra trong gia đình giàu có, học tập trong các ngôi trường tốt luôn có những lợi thế không công bằng so với những người khác. Được tiếp cận với môi trường giáo dục cấp tiến hơn những vùng khác. Nhưng cộng điểm ưu tiên cho thí sinh từ các vùng khác có làm giảm đi sự bất công trong các cuộc khảo thí? hay làm nảy sinh ra một sự bất công khác? Những người không được cộng điểm sẽ cho rằng mình bị phân biệt đối xử nhưng họ có chấp nhận sống tại miền quê nghèo bao năm để được cộng điểm ưu tiên không thì không ai dám khẳng định! (vui lòng không nghĩ tới tiêu cực, hãy nghĩ chúng ta đang sống trong một môi trường không có tiêu cực).

            3. Cộng điểm cho người dân tộc thiểu số? Tôi không biết lập luận của Bộ Giáo dục về vấn đề này như thế nào, nhưng trong cuốn sách Justice – What’s the right thing to do, Giáo sư Micheal J. Sendal có đề cập đến lập luận của Khoa luật Đại học Texas và Đại học Harvard như sau:
Khoa luật Đại học Texas: “…. Khoa luật có sứ mệnh là nâng cao sự đa dạng trong nghề luật ở Texas và cho phép người Mỹ gốc Phi và gốc Latin dám nhận vai trò lãnh đạo trong chính quyền và giới luật gia..”

Đại học Harvard: “…Nếu thành tích học tập xuất sắc là tiêu chí duy nhất hoặc tiêu chí chiếm ưu thế, Đại học Harvard sẽ mất đi rất nhiều sức sống và trí tuệ xuất sắc… Vì thế chất lượng của các hoạt động giáo dục dành cho tất cả sinh viên sẽ giảm sút..”

           Như vậy, quan điểm của hai trường đại học nêu trên đều dựa trên tiêu chí đa dạng sinh viên đầu vào, từ châu Á, châu Phi, châu Mỹ, châu Âu… Vì một người từ châu Á sẽ mang đến đại học Harvard một điều gì đấy mà một người từ châu Âu không thể đem đến. Sự đa dạng về màu da, văn hóa, chủng tộc sẽ thúc đẩy sự phát triển đa dạng của cộng đồng người, tránh tình trạng lấn át của dân tộc này đối với dân tộc khác. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng việc cộng điểm ưu tiên cho người dân tộc thiểu số chính là sự thừa nhận sự bất bình đẳng giữa các dân tộc khác nhau trong cùng một quốc gia, khiến cho chính người thuộc dân tộc thiểu số cảm thấy như mình đang bị thương hại còn người không thuộc dân tộc thiểu số thì bị bất công làm cho mâu thuẫn lên cao, hơn là mang lại sự bình đẳng giữa các dân tộc.

           Ở Việt Nam, quy định về cộng điểm ưu tiên do Chính phủ quy định và Bộ Giáo dục thực hiện, tất cả các trường trong công lập hay ngoài công lập đều phải áp dụng, điều tôi băn khoăn là các trường đại học ở nước ta có ủng hộ chính sách này hay không? Cục phó Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục Trần Văn Nghĩa đã giải thích tại sao khi trả lời phỏng vấn trên báo Vnexpress.net như sau:
            Quy định này nhằm đảm bảo công bằng cho học sinh, vì những em ở vùng miền núi, nông thôn sẽ không thể có điều kiện học tập tốt như thành phố. Cộng điểm cho các đối tượng cũng là một hình thức đền ơn, đáp nghĩa. Điểm ưu tiên, khuyến khích cũng được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới chứ không riêng gì Việt Nam.
            Tuy nhiên, vấn đề này luôn có tranh cãi. Thế giới đã có nhiều phân tích, theo đó quá trình tuyển sinh dựa hoàn toàn vào điểm thi có nghĩa là thí sinh được so sánh theo cùng một tiêu chí, tuy nhiên như thế nội dung của bài kiểm tra có thể không phù hợp với một số nhóm nhất định, ví dụ, tập trung vào kiến thức hoặc trải nghiệm văn hóa mà họ chưa được tiếp cận. Vì vậy điểm của những bài kiểm tra đó không đánh giá chính xác kiến thức và khả năng thực sự của thí sinh. Việc đưa ra các đánh giá dựa hoàn toàn vào điểm thi có phần thiên vị, không thể hiện được sự so sánh công bằng về khả năng thực sự của các em. Vì thế có thể nói rằng quá trình tuyển sinh mà chỉ xem xét những điểm số này, mặc dù có lẽ tương đối khách quan, trên thực tế là không công bằng.

             Thứ hai, trên cả sự thiên vị cố hữu trong nội dung của câu hỏi, các kỳ thi có thể không công bằng cho một số nhóm học sinh không có điều kiện tiếp cận với các nguồn lực cần thiết để chuẩn bị đầy đủ cho kỳ thi này. Với các bài thi kiểm tra kiến thức đạt được ở trung học, học sinh ở các trường chất lượng thấp sẽ ít có khả năng thành công hơn những người học tại các trường chất lượng cao. Ở các nước với ngành công nghiệp luyện thi phát triển, học sinh không có điều kiện chi trả cho các lớp học và gia sư đắt tiền dường như bất lợi hơn nhiều.

              Cuối cùng, cần xem xét vai trò của giáo dục đại học trong việc thúc đẩy công bằng xã hội. Trên thực tế, do học sinh thiểu số và những học sinh có điều kiện kinh tế khó khăn ít có khả năng tiếp cận với các trường trung học chất lượng cao so với học sinh khá giả hơn, họ có thể phải phấn đấu nhiều hơn ở đại học và rút cuộc là không thành công lắm trong học tập. Nếu mục tiêu của quá trình tuyển sinh là tiếp nhận các thí sinh có khả năng tốt nhất và được chuẩn bị tốt cho thị trường lao động sau khi tốt nghiệp, những học sinh thiểu số không phải là thí sinh có tiềm năng nhất. 

              Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy chính những sinh viên này sau khi tốt nghiệp đại học, không kể đến khóa học và bằng cấp, sẽ có tác động lớn nhất về sự chuyển dịch xã hội và cải thiện tình trạng kinh tế. Vì nâng cao tình trạng kinh tế xã hội của các nhóm có hoàn cảnh khó khăn là mục tiêu phát triển dài hạn quan trọng ở nhiều quốc gia, không nên bỏ qua tác động tích cực hay tiêu cực tiềm năng của các thủ tục tuyển sinh ở các nhóm này.
           Thực tế cho thấy một chích sách chung khó lòng đảm bảo tính toàn diện, không kẻ hở và đối xử công bằng với tất cả mọi người là rất khó khi mà sự phân hóa rạch ròi giữa các nhóm người trong xã hội là không rõ ràng.Tuy nhiên, sự phản biện của xã hội đối với từng chính sách của Nhà nước là một tín hiệu đáng mừng và thiết nghĩ khi ban hành một chính sách nào đó đại diện chính quyền nên nêu lên những luận chứng để chứng minh sự đúng đắn của chính sách đó.